Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for the ‘Văn Kiện ĐDTVN’ Category

Tâm Thư của ông Nguyễn Hữu Chánh

Tổng Bí Thư

Ðảng Dân Tộc Việt Nam

 Kính gửi:

– Toàn thể đồng bào ở trong và ngoài nước
– Những người yêu nước và tự do, dân chủ ở khắp nơi
– Quý đoàn thể, tổ chức, hiệp hội ở trong và ngoài nước
– Các đồng chí thuộc Ðảng Dân Tộc Việt Nam

Thưa toàn thể quý vị,

Vào ngày 17/4 vừa qua, tôi chấp nhận lời đề nghị của đại diện các đoàn thể đấu tranh cách mạng ở trong nước với vai trò Tổng Bí Thư của Ðảng Dân Tộc Việt Nam. Ðây là một quyết định lớn của đời tôi trong suốt quá trình đấu tranh cứu nước từ năm 1975 đến nay — là một quyết định mà tôi cảm thấy hân hạnh nhất cho cuộc đời một người trẻ dấn thân đi làm cách mạng để cứu dân cứu nước. 

Tôi chân thành cảm ơn sự tín nhiệm của các chiến hữu trong Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Tự Do, các Nghĩa hữu trong Liên Ðảng Việt Nam Tự Do, đã thông cảm và chấp nhận cho tôi được rời khỏi các trách vụ lãnh đạo Chính Phủ và Liên Ðảng, để nhận lãnh một sứ mạng vô cùng quan trọng với Ðảng Dân Tộc Việt Nam, nhằm trực diện đấu tranh với đảng Cộng sản Việt Nam ở trong nước.

Tôi đồng thời cảm ơn một cách đặc biệt quý vị đại diện các tổ chức trong Mặt Trận Dân Tộc Tự Quyết ở Việt Nam, đã hoàn toàn tin tưởng ở thiện chí và quyết tâm của tôi. Tôi đồng thời cũng xin cảm ơn các đồng chí sáng lập viên Ðảng Dân Tộc Việt Nam, đã tín nhiệm đề cử tôi vào vai trò lãnh đạo Ðảng.

Trong bức tâm thư này, tôi xin phép được tâm tình, chia sẻ với quý vị một số suy nghĩ và hoài bão của tôi về công cuộc đấu tranh dân chủ hóa, cứu nước và xây dựng đất nước của chúng ta.

Thưa quý vị,

Ngày xảy ra biến cố 30/4/1975, tôi là một thanh niên độc thân vừa tròn 26 tuổi – một chuyên viên trẻ thuộc ngành công chánh. Như bao triệu thanh niên khác, ở trong hay ngoài quân đội hai phía, tôi cũng đã thoáng có hy vọng ở tương lai của một đất nước vừa thoát khỏi chiến tranh bom đạn. Lúc đó, tôi đinh ninh rằng khi nước ta hết còn bị chia cắt, mọi người sẽ ngậm ngùi nhìn lại giai đoạn lịch sử tăm tối trước đó để hòa đồng và thống nhất lòng người từ Bắc chí Nam, chấm dứt một giai đoạn phân hóa, tương tàn giữa những người đồng bào, đồng chủng.

Nhưng những gì xảy ra sau đó đã tiêu hủy gần hết niềm hi vọng tuổi trẻ của tôi. Nỗi đau đó đã thúc đẩy tôi mạnh dạn dấn thân vào con đường kháng chiến đấu tranh đầy gian truân, thử thách. Quảng đời tranh đấu cam go đó đã thúc đẩy tôi trôi nổi khắp nẻo đường đất nước để tìm cơ duyên cứu nước. Tiếc là, cuộc kháng chiến thiếu sự yểm trợ của quốc tế và cộng đồng người Việt ở bên ngoài đã mỗi ngày một khó khăn hơn, để đến năm 1982 tôi phải quyết định rời đất nước tìm điều kiện cứu nước từ hải ngoại. 

Năm 1992, với hoài bão vẫn luôn nóng bỏng, tôi trở lại Việt Nam để hồi phục những hoạt động đã tạm đình hoãn ở 10 năm trước đó. Dù giai đoạn này không đưa đến những thành quả mặt nổi to lớn nhưng tôi rất trân trọng nó, vì nhờ nó, tôi đã có dịp gặp gỡ, quen biết và kết hợp được với rất nhiều người yêu nước đã và đang có mặt trong hàng ngũ nhà nước CSVN lúc bấy giờ. Những hiểu biết và cảm thông này đã cho tôi một niềm tin là công cuộc đấu tranh dân chủ hóa đất nước sẽ không phải là cuộc chiến đấu giữa người miền Nam và miền Bắc; cũng không phải là giữa những người không Cộng sản với những người đảng viên, bộ đội, viên chức Cộng sản; mà chắc chắn sẽ là giữa những người không chấp nhận đảng và chế độ Cộng sản với chính thiểu số cầm quyền của guồng máy độc tài, thối nát đó. Từ nhận thức đó, tôi quyết tâm cố gắng bằng mọi cách để mở một con đường hòa đồng và thống nhất cho dân tộc.

Con đường nhân bản đó là một chuỗi dài đầy cam go, thử thách, thăng trầm, hi vọng, thất vọng, lạc quan, bi quan, thành công, thất bại, v.v… với bao bài học vô cùng đắt giá. Các chiến hữu của tôi và tôi đã đổ không biết bao nhiêu tiền bạc, công sức, mồ hôi, và cả nước mắt để từng bước xây dựng một thực thể chính trị. Ðiều đáng khích lệ là sau 28 năm dài, một thành quả quốc tế vận rất đáng lạc quan, và một thực thể chính trị đã được thành hình. Tôi nghĩ là những ai trong vị trí của tôi cũng đã có thể cảm thấy hết sức an ủi, vui mừng. Nhưng thưa toàn thể quý vị, cá nhân tôi vẫn chưa hài lòng với các thành quả mà mình vừa đạt được. Không những thế, tôi lại còn đang trăn trở, thao thức nhiều hơn, vì điều tôi hằng mong đợi không phải là thành công riêng cho cá nhân mình, mà là cái thành quả sau cùng của công cuộc đấu tranh nhằm giải trừ dứt khoát sự lãnh đạo độc tài của Bộ Chính Trị – Ðảng CSVN.

Thưa quý vị,

Tôi băn khoăn và đau khổ vì tôi là một người trẻ bộc trực: nói những gì mình tin là đúng và làm những gì mình đã nói là sẽ làm. Tôi đã thực hiện phần lớn những điều tôi hứa với đồng bào, đặc biệt là với những người đặt trọn niềm tin nơi tôi, trong đó có các Chiến hữu và Nghĩa hữu thân yêu của tôi — những người đã cùng tôi chia sẻ một quảng đường tranh đấu suốt tám năm dài với không biết bao nhiêu nhục nhằn, khó khăn và thử thách. 

dt515b.jpg

Tôi biết là cũng có rất nhiều người hiểu được lòng tôi, cảm thông cho trách nhiệm quá to lớn của tôi. Những lời động viên, khích lệ và cử chỉ đặt trọn niềm tin vào sự lãnh đạo của tôi đã cho tôi thêm nghị lực để mạnh bước dấn thân trên con đường cách mạng.

Nhưng đó là con đường cách mạng thực sự ở trong nước!

Thưa quý vị, tôi làm sao có thể ung dung hài lòng với chức vụ Thủ Tướng Chính Phủ mà hơn sáu ngàn đồng bào đã trực tiếp tín nhiệm cho tôi một cách nồng nhiệt trong kỳ Quốc Dân Ðại Hội tổ chức tại vùng Nam California (Hoa Kỳ) vào ngày 30/6/2002, khi lời hứa giải trừ bọn thiểu số lãnh đạo thuộc Bộ Chính Trị – Ðảng CSVN vẫn chưa thực hiện được? Tôi vui mừng làm sao được ở cái xứ tạm dung này khi đồng bào của chúng ta vẫn còn đang ngụp lặn trong điêu linh, thống khổ ở quê nhà; và xã hội vẫn đang đắm chìm trong cảnh trạng thối nát, tham nhũng, bất công, nghịch lý…

Với những trăn trở dằn vặt đó, sau nhiều ngày đêm suy nghĩ, tôi quyết định từ nhiệm chức vụ Thủ Tướng của Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Tự Do để chuẩn bị điều kiện thuận lợi cho chương trình đấu tranh trực diện với CSVN mà tôi đã chuẩn bị từ mấy năm qua. 

Vào ngày 15/03/2003, sau khi hoàn thành trách nhiệm thành lập một Nội Các với nhiều nhân tài, tuổi trẻ và đặc biệt là các điều kiện yểm trợ hùng hậu từ mặt quốc tế vận đến tài chánh và cơ sở vật chất, tôi đã trình bày rõ ràng nhu cầu đấu tranh ở quốc nội và yêu cầu bộ phận lãnh đạo CPLTVNTD và LÐVNTD cho phép tôi được chính thức từ nhiệm, để có thể công khai tham gia với Ðảng Dân Tộc Việt Nam và nhận lãnh các sứ mạng lãnh đạo Ðảng. 

Niềm an ủi và khích lệ lớn lao của tôi là sự thông cảm và tin tưởng tuyệt đối của các chiến hữu tôi thuộc Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Tự Do, và các nghĩa hữu thuộc Liên Ðảng Việt Nam Tự Do. Ðiều này nói lên rằng các chiến hữu và nghĩa hữu của chúng tôi nhận thức được vai trò quan trọng của Ðảng Dân Tộc Việt Nam trong tiến trình giải trừ sự lãnh đạo độc tài của Bộ Chính Trị – Ðảng CSVN.

Thưa quý vị,

Sự hình thành của Ðảng Dân Tộc Việt Nam là một bước ngoặt lịch sử vô cùng quan trọng. Ở thời điểm này, những người yêu nước từ nhiều xuất xứ và quá trình chính trị khác nhau đã đến với nhau bằng một tâm thức mới. Ðó là trở về với tinh thần dân tộc để góp sức làm một cuộc cách mạng thực sự cho quốc gia, dân tộc.

Nhận lời mời đứng tên thành lập Ðảng Dân Tộc Việt Nam và giữ trách nhiệm Tổng Bí Thư Ðảng là một quyết định thể hiện niềm tin hai chiều. Ðại diện các tổ chức đấu tranh cách mạng ở quốc nội (kể cả một số thành phần đã hoặc đang ở trong guồng máy CSVN song muốn từ bỏ Cộng sản) đã đặt trọn niềm tin ở con tim, khối óc và quyết tâm của tôi. Ngược lại, tôi cũng cảm thấy rằng sau nhiều năm liên hệ, thử thách đầy cam go, tôi cũng đã có thể tin tưởng mãnh liệt rằng những con người này có đủ bản lãnh, nghị lực và điều kiện để trở thành mũi nhọn của một tổng lực cách mạng có khả năng giải thể và thay thế chế độ độc tài CSVN. 

Một điều tin tưởng lớn khác của tôi là con tim yêu nước nồng nàn của nhiều người có lòng vốn đã từng bỏ cả một khoảng đời đi đấu tranh vì hạnh phúc của đồng bào, vì sự độc lập của đất nước. Ðến khi nhận thấy sự lừa đảo, phi nhân, phi dân chủ và thối nát của Ðảng CSVN, những con người này đã quyết định tiếp tục đấu tranh. Sự khác biệt chỉ là, ngày trước thì đứng dưới ngọn cờ Cộng sản để nhuộm đỏ miền Nam, thì bây giờ trở về dưới ngọn cờ dân tộc để đánh đổ Bộ Chính Trị Đảng CSVN.

Thưa quý vị,

Niềm tin vào con người không dễ dàng mà có được. Chúng tôi đã nhiều lần cùng nhau khách quan và thẳng thắn nhìn lại giai đoạn lịch sử cận đại vừa qua và hỏi rằng: Có phải chăng nửa thế kỷ qua là một giai đoạn dân tộc Việt Nam bị các thế lực quốc tế xô đẩy vào tình trạng vong thân, vong bản — một giai đoạn mà phần lớn dân tộc chúng ta đã bỏ quên các giá trị thiêng liêng truyền thống của mình để chạy theo những chủ nghĩa ngoại lai là Cộng sản và Tư Bản? Có phải chăng vì quên đi tinh thần Tự Quyết của dân tộc mà chúng ta đã bị cuốn hút vào ảnh hưởng của ngoại bang, dẫn đến cuộc chiến tranh tương tàn, xâu xé lẫn nhau trong suốt mấy chục năm trời, làm bao triệu sinh linh phải hi sinh oan uổng?

Chúng tôi cũng đã tự bảo nhau: Người Việt Nam chúng ta sinh ra đâu phải để trở thành Cộng sản hay Tư Bản, để từ đó phân hoá, hận thù, chém giết lẫn nhau? Có gì đau lòng hơn khi hai phần dân tộc khác nhau bị đẩy vào vị trí phải cầm súng bắn giết nhau cũng chỉ vì hai chữ độc lập của đất nước và hạnh phúc của dân tộc? Và có gì mỉa mai hơn nữa khi nhân dân chứng kiến hàng triệu người đã phải nằm xuống cho việc đánh đổ một chế độ, để rồi sau đó lại nhìn thấy chế độ mới lại còn tồi tệ hơn các chế độ vừa bị sụp đổ. Và có phải chăng đã đến lúc chúng ta phải thẳng thắn với nhau một điều là tất cả chúng ta, từ nhiều thế hệ qua, đều là nạn nhân của một hoàn cảnh lịch sử hết sức phức tạp, éo le và tăm tối? Nếu là thế thì cũng đã đến lúc để chúng ta tiếp tục cuộc cách mạng giải cứu nhân dân và dựng xây lại đất nước với một tâm thức mới.

Từ góc nhìn lịch sử đó, chúng tôi nhận diện được nhau và đã kết hợp chặt chẽ với nhau để hình thành Ðảng Dân Tộc Việt Nam.

Ðối với giai đoạn lịch sử vừa qua, chúng tôi trân trọng các giá trị không thể phủ nhận được song quan niệm rằng: muốn giải quyết các bế tắc chính trị hiện nay, chúng ta phải có can đảm nhận diện nguyên nhân của nó. Ðó là chúng ta không thể để cho mặc cảm tự tôn và tự ti của quá khứ tiếp tục trở thành những chướng ngại cản trở công cuộc cứu nguy đồng bào và xây dựng lại xứ sở. Chúng ta phải mạnh dạn dứt khoát với quá khứ. Sự dứt khoát đó là những người yêu nước và yêu dân chủ, tự do, ngày nay phải đứng lên với một tư thế mới là người Việt Nam; chứ không phải là người Cộng Sản, Cộng Hòa hay Tư Bản nữa! “Lằn ranh Quốc-Cộng” với những hận thù, định kiến phải được thay thế bằng một trận tuyến mới, là những người không chấp nhận chế độ thối nát, độc tài hiện nay, đối đầu với cái thiểu số độc tài thuộc Bộ Chính Trị – Ðảng CSVN.

Chúng tôi nhấn mạnh và chỉ đích danh “Bộ Chính Trị – Ðảng CSVN” vì chúng tôi nhận thức được rằng thảm trạng đất nước ngày nay là trách nhiệm của một thiểu số cuồng tín, độc tài và bảo thủ trong guồng máy lãnh đạo CSVN. Ðó là Bộ Chính Trị – Đảng CSVN – là thành phần duy nhất cần phải loại trừ. Các thành phần khác trong guồng máy đảng và nhà nước chỉ là nạn nhân của một hoàn cảnh lịch sử, cần phải được cảm thông một cách chân thành trong tình nghĩa đồng bào và tình yêu thương bao la của dân tộc. Tôi muốn nhấn mạnh điều này vì tôi quan niệm rằng chỉ có tình dân tộc mới đủ lớn để bao dung cả một dân tộc. Tôi nhấn mạnh tình đồng bào vì dù gì đi nữa, chúng ta vẫn là đồng bào với nhau. Chúng ta chỉ chống lại những kẻ mà, đến giờ phút này, vẫn còn ngoan cố để tiếp tục phục vụ, bao che cho cái thiểu số tội lỗi đầy dẫy ở Bộ Chính Trị – Đảng CSVN.

Ðặc biệt, chúng tôi nhìn nhận sự hy sinh và công lao của những người đã đóng góp trong công cuộc kháng chiến chống thực dân, ngoại xâm, cũng như những người đã kiên trì đóng góp cho công cuộc đấu tranh dân chủ hóa Việt Nam trong suốt gần 30 năm qua. Tôi trân trọng ghi nhận lòng can đảm và sự đấu tranh dũng mãnh của nhiều nhà trí thức yêu dân chủ, tự do, đã chấp nhận hiểm nguy để vạch trần bản chất của chế độ. Tôi hy vọng và tin tưởng là những người yêu nước trong các thành phần dân tộc khác nhau sẽ sớm gác qua được những định kiến, mặc cảm của quá khứ để cùng đến với nhau dưới ngọn cờ Ðảng Dân Tộc Việt Nam trong một ngày không xa. Chúng tôi quan niệm rằng Dân Tộc là mẫu số chung, là tụ điểm đoàn kết, chứ không phía nào phải “chiêu hồi” phía nào.

Nhân đây, tôi xin phép được có một số lời tâm tình đặc biệt với những người yêu nước vẫn còn vướng mắc trong guồng máy đảng và nhà nước CSVN.

Thưa các bạn,

Ðã là những người yêu nước, chắc chắn các bạn cũng đều có nhận xét về hiện trạng đất nước không khác chúng tôi. Ðó là, khi nhân loại bước vào thế kỷ 21, đại đa số các nước trên thế giới đã được hưởng dân chủ, tự do, ấm no và tiến bộ thì tại Việt Nam, gần 80 triệu đồng bào ruột thịt của chúng ta vẫn chưa có được một điều kiện sống tối thiểu, ở cả mặt tinh thần và vật chất. Không những thế, các bạn đã có dịp để chứng kiến hằng ngày những cảnh trạng phi lý, bất công, khủng hoảng và băng hoại trong xã hội mà đảng và chế độ độc tài CSVN đã tạo ra. Chúng tôi tin là các bạn đau lòng lắm, và uất hận lắm! Các bạn đã bỏ gia đình, sự nghiệp để dấn thân đấu tranh đâu phải là để tạo ra một xã hội tồi tệ như hiện nay. Hàng triệu đồng chí của các bạn đã nằm xuống vĩnh viễn, hàng trăm ngàn đồng chí của các bạn đã hy sinh một phần thân thể, và hàng triệu đồng ngũ khác đã mất cả tuổi thanh xuân cho sự nghiệp đấu tranh, đâu phải để cuối cùng nhìn thấy cảnh đồng bào phải bị đói nghèo, áp bức, bóc lột thảm thương, và hàng trăm ngàn thiếu nữ Việt phải bán thân nuôi miệng và gia đình. Tất cả chỉ vì cái thiểu số cầm quyền bảo thủ, độc tài trong Bộ Chính Trị – Đảng CSVN.

Thưa các bạn,

Trước khi có một số đề nghị cùng các bạn, tôi muốn các bạn hiểu được rằng tôi nói lên những điều này như là tín hiệu tìm kiếm những đồng chí mới để cùng góp tâm sức thực hiện cuộc cách mạng này.

Tôi không muốn dùng danh từ “đồng minh” cho sự quan hệ sắp tới của chúng ta, vì đó là cách gọi của người Hoa kỳ cho những người bạn chiến lược giai đoạn của họ.

Tâm tình mà tôi gửi đến các bạn và những người Việt Nam yêu nước ở khắp nơi trong lá Tâm Thư này là tâm tình của một đồng bào với những người đồng chủng Việt Nam. Tôi hy vọng rằng từ những lời tâm huyết này, chúng ta sẽ có dịp đến với nhau trong hàng ngũ Ðảng Dân Tộc Việt Nam, bằng một tình đồng chí hoàn toàn mới, chứ không phải là thứ tình đồng chí chứa đầy thủ đoạn lợi dụng của đảng CSVN.

Chúng tôi chân thành và tha thiết kêu gọi sự mạnh dạn hưởng ứng và tham gia của các bạn. Chúng tôi cần và muốn có sự hiện diện, đóng góp của các bạn trong hàng ngũ Ðảng Dân Tộc Việt Nam. Chúng ta không thay đổi được quá khứ nhưng chúng ta chắc chắn có khả năng thay đổi cục diện chính trị hiện nay của nước nhà. Chúng ta sẽ thay đổi vận mệnh của đất nước bằng sự vận dụng khéo léo các thế tương quan quốc tế, bằng ý chí và quyết tâm của nhân dân, bằng áp lực và kết quả các biến động chính trị… chứ không phải bằng chiến tranh súng đạn nữa. 

Hãy chứng tỏ với nhân dân và thế giới rằng các bạn là những người Việt Nam yêu nước, yêu dân chủ, tự do chứ không phải yêu chủ nghĩa Mác-Lê hay đảng Cộng sản. Chúng ta hãy hợp sức để thay thế họ, chấm dứt tình trạng đảng trị độc tài và thối nát hiện nay, vì thực tế cho thấy rằng Bộ Chính Trị – Đảng CSVN là những thành phần bảo thủ không thể nào thay đổi được.  

Ðừng chần chừ và do dự nữa! Hãy mạnh dạn đứng lên, hoặc là công khai hay bí mật. Chỉ có sự mạnh dạn đó mới chứng tỏ được các bạn là những người thực sự không chấp nhận đảng và chế độ CSVN. Chỉ có phương cách đó mới có thể cứu được dân, cứu được nước và cứu chính bạn cùng gia đình.

Thưa toàn thể quý vị,

Suốt bao nhiêu năm qua dân tộc chúng ta bị các thế lực ngoại lai làm phân hóa và mâu thuẫn. Ngày hôm nay, Ðảng Dân Tộc Việt Nam quyết tâm hòa đồng và thống nhất dân tộc.

Tôi hy vọng rằng những lời tâm tình, chia sẻ chân thành này sẽ là một tín hiệu tập hợp để những người yêu nước sẽ cùng đến với nhau trong một niềm tin mới. Và điểm hẹn lịch sử đó là Ðảng Dân Tộc Việt Nam!

Hôm nay là ngày 17 tháng 8 năm 2003, tại thủ đô Little Sàigòn, tiểu bang California, Mỹ Quốc. Nhân danh là Tổng Bí Thư Đảng Dân Tộc Việt Nam, tôi long trọng tuyên bố ngày ra mắt chính thức của Đảng Dân Tộc Việt Nam và trân trọng giới thiệu cùng toàn thể đồng bào thành phần Trung Ương Ủy Viên và Đảng Bộ Hải Ngoại của Đảng Dân Tộc Việt Nam.

Cầu mong các Ðấng Thiêng Liêng luôn phò trợ cho quý vị và gia đình.

Kính chào đoàn kết và quyết thắng!

Nguyễn Hữu Chánh

Tổng Bí Thư Ðảng Dân Tộc Việt Nam

Advertisements

Read Full Post »

GẦN 3000 ÐỒNG BÀO HÂN HOAN
THAM DỰ LỄ RA MẮT
ÐẢNG DÂN TỘC VIET NAM

Người Việt Nam chúng ta sinh ra đâu phải để trở thành Cộng Sản hay Tư Bản, để từ đó phân hóa, hận thù, chém giết lẫn nhau? Có gì đau lòng hơn khi hai phần dân tộc khác nhau bị đẩy vào vị trí phải cầm súng, bắn giết nhau cũng chỉ vì hai chử độc lập của đất nước và hạnh phúc của dân tộc? Và có gì mai mỉa hơn khi phải chứng kiến cảnh hàng triệu con người phải nằm xuống để đánh đổ một chế độ, để rồi sau đó phải nhìn thấy chế độ mới còn tồi tệ trăm lần hơn chế độ vừa sụp đổ. Có phải chăng đã đến lúc chúng ta phải thẳng thắn với nhau một điều là tất cả chúng ta, từ nhiều thế hệ qua, đều là nạn nhân của một hoàn cảnh lịch sử hết sức phức tạp, éo le và tăm tối. Nếu là thế thì cũng đã đến lúc để chúng ta tiếp tục cuộc cách mạng giải cứu nhân dân và dựng xây lại đất nước với một tâm thức mới. Đó là trích đoạn trong lời phát biểu của ông Nguyễn Hữu Chánh, Tổng Bí Thư Đảng, trong Lễ Ra Mắt Đảng Dân Tôầc Việt Nam tại Anaheim Convention Center, miền Nam tiểu bang California, Hoa Kỳ, hôm Chủ Nhật, 17 tháng 8 năm 2003.

dt504b.jpg

Trong không khí trang nghiêm và cảm động, với một khán đài lớn chính giữa là lá đại kỳ Việt Nam, phía dưới là một bàn thờ tổ quốc được thiết kế với hoa quả hương đèn và một bản đổ tổ quốc, hai bên bàn thờ và hai tàng lộng lớn và dàn cờ Việt Mỹ và cờ Đảng Dân Tộc Việt Nam. Trong hội trường các hàng ghế đã chật kín với khoảng 3000 đồng bào hiện diện, gồm rất đông quí vị lãnh đạo tinh thần các các tôn giáo, các nhân sĩ trưởng thượng, các tổ chức đoàn thể đấu tranh, các cơ quan truyền thông, báo chí và đồng bào mọi giới đã đến để chứng kiến sự ra đời của một đảng cách mạng, tự nguyện lãnh sứ mạng cứu nước, đấu tranh lật đổ, chấm dứt sự cai trị của nhóm Chính Trị Bộ và giải tán đảng Cộng Sản Việt Nam để thực hiện một đất nước Việt Nam tự do, dân chủ và tôn trọng nhân quyền.

Chúng tôi nhận thấy có phái đoàn của Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Tự Do, gồm có: Ông Nguyễn Hữu Chánh, Tổng Bí Thư Đảng Dân Tộc Việt Nam, nguyên Thủ Tướng Chính Phủ, Đô Đốc Lâm Ngươn Tánh, Đệ II Phó Thủ Tướng Đặc Trách Quốc Phòng, Giáo Sư Tiến Sĩ Hà Thế Ruyệt, Đệ III Phó Thủ Tướng Đặc Trách Văn Hóa Giáo Dục và rất đông các vị trong Nội Các Chính Phủ.

Trong phía quan khách Việt Nam, gồm có các vị lãnh đạo tinh thần các tôn giáo: Mục sư Nguyễn Phú Cam, Quản Nhiệm Hội Thánh Tin Lành Alhambra, Mục Sư Kim Vân, phái đoàn Chùa Hộ Pháp gồm có: Thượng Tọa Thích Tuệ Uy, Ni sư Thích Tuệ Từ, Đại Đức Thích Tuệ Nghiêm, Đại Đức Thích Tuệ Chiếu, Đại Đức Thích Tuệ Minh, Cụ Phan Thanh Nhãn, Nhân sĩ Phật Giáo Hòa Hảo, nguyên cận vệ Đức Thầy Huỳnh Giáo Chủ, Hiền tài Nguyễn Sao Đáp, Ban Quản Nhiệm Ban Thế Đạo Cao Đài Hải Ngoại (đến từ tiểu bang Kansas), Hiền Tài Võ Thanh Liêm, Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh (đến từ Úc Đại Lợi).

dt5141.jpg

Đại diện các đoàn thể, cộng đồng: Tiến Sĩ Lê Hoàng, Chủ tịch Mặt Trận Dân Chủ Việt Nam (đến từ Đông Âu), ông Nguyễn Bá Sâm, nguyên Phó chủ Tịch Cộng Đồng tiểu bang Minnessota, bà Phạm Ngọc Trinh, Chủ Tịch Hội Cao Niên Việt Nam tại Canterbury, Sydney, Úc Đại Lợi, Phái đoàn Cộng Đồng Miền Nam California gồm ông Nguyễn Thành Trạng, Chủ Tịch, ông Hồ Đắc Phú, Tổng Thư Ký, Ông Trần Thế Ngữ, Phó Chủ Tịch Nội Vụ, phái đoàn Ủy Ban Bảo Vệ Chính Nghĩa Quốc Gia gồm có: Ông Hồ Anh Tuấn, Chủ Tịch, Dược Sĩ Bùi Như Hải, ông Phạm Ngọc Lân, phái đoàn Ủy Ban Bảo Vệ Cộng Đồng: Trung Tá Phạm Ngọc Xuyến, Chủ Tịch, ông Hoàng Ngọc Thiệp, Phó Chủ Tịch, ông Võ Xuân Hy, Tổng Thư Ký, ông Nguyễn Đình Khương, Chủ Tịch Ban Giám Sát Khu Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị Nam California.

Thành phần nhân sĩ gồm có: Thiếu Tướng Lê Văn Tư (cựu Tư Lệnh Sư Đoàn 25), Cụ Nhân Sĩ Nguyễn Văn Lộc (Nguyên Tổng Giám Đốc Quan Thuế VNCH), Cụ Nhân Sĩ Lê Quang Thái (Cậu của Trung Tướng Ngô Quang Trưởng) đến từ Oklahoma, Đại Tá Lê Văn Năm (cựu Tỉnh Trưởng Long An), bà quả phụ Đại Tá Lực Lượng Đặc Biệt Hồ Tiêu, Cụ Nhân Sĩ Từ Duy Nhã, Nhân Sĩ Võ Trấp (Nhân Sĩ Bình Định, nguyên Chủ Tịch Cộng Đoàn Công Giáo Canoga Park), ông Trần Văn Hiệu (nguyên Nghị Viên Bình Định), cụ Nhân Sĩ Nguyễn Văn Bách (nguyên Phó Chủ Tịch Lực Lượng Đại Đoàn Kết Công Giáo), Giáo Sư Bùi Văn Sớm, Giáo Sư Phạm Bá Ngữ, Giáo Sư Nguyễn Đại Giang, Giáo Sư Ngô Thị Bảo, Giáo Sư Phan Quang Tung, Giáo Sư Trần Thi Kim Chung, ông Nguyễn Văn Thanh, nhân sĩ Công Giáo, nhà thơ Dương Thanh Phong, ông Phó Cư Trần (nguyên Phó Chủ Tịch Cộng Đồng Người Việt Los Angeles), Trung Tá Lê Như Hùng, Trung Tá Phạm Văn Phú. . . .

Về truyền thông có: ông Huỳnh Ngọc Sơn (Thời Báo Úc Đại Lợi), Ký giả Tráng Sĩ (báo Lập Trường), Nhà báo Trần Đông Phương (Phó Chủ Tịch Hiệp Hội Truyền Thông Báo Chí Việt Ngữ Tại Hoa Kỳ), Nhà báo Lý Kiến Trúc (Tạp chí Văn Hóa), nhà báo Duy Linh (báo Công Luận), Đặc Phái Viên Thành Trí (Charlotte Ngày nay, tiểu bang North Carolina), Ông Nguyễn Ngọc Bích (Chủ Nhiệm Việt Báo Colorado), Đại diện của Tuần báo Chánh Đạo Sanjose, Bắc California, bà Như Hảo (tạp chí Mẹ Việt Nam và Đài Phát Thanh Mẹ Việt Nam), anh Cao Đức Trí (Website Việt Nam Hồn Nước), ông Võ Cự Long (Giám Đốc Truyền Hình Việt Nam và Vietnam Radio), bà Nguyễn Kim Anh (Chủ Nhiệm tuần báo Chí Linh), Ký Giả Nguyễn Mạnh Cường (Tạp Chí Văn Hóa), ông Trần Việt (báo Dân Tộc), Cô Minh Giang (Giám Đốc Đài Phát Thanh Việt Nam Tự Do), ông Trương Ngọc Thu (Giám Đốc Đài Truyền Hình Việt Nam Tự Do). . .

Đặc biệt đã có sự hiện hiện rất đông các quan khách ngoại quốc: Phái Đoàn Chính Phủ Lưu Vong Hoàng Gia Lào 27 người, với sự hướng dẫn của Ông Khamphoui Sisavatdy, Thủ Tướng Chính Phủ, Dân Biểu Liên Bang Dana Rohrabacher, ông Martin Bloxham, Tổng Lãnh Sự nước Tân Tây Lan tại Hoa Kỳ, Giáo Sư Ron Nechemia, Giảng Viên Kinh Tế Tài Chính Liên Hiệp Quốc, ông Kermit Marsh, Phó Thị Trưởng thành phố Westminter, Ông Dennis Cartron, Chủ Tịch tổ chức APAC, thành viên Ủy Ban Quốc Tế Yểm Trợ CPLT/VNTD (nguyên Chủ Tịch California Congress Of Republicans), ông Beatriz Salas, đại diện cộng đồng Latino, Sáng Lập Viên tổ chức 100 Groups Hipanic Collition, ông Tareef M. Nashashibi, Chủ Tịch tổ chức Arab-American Republican Club Of Orange County, bà Rosie Avila, White House Commissioner for President George W. Bush, Sáng Lập Viên và là Chủ Tịch Orange County Youth Commissioner, ông Martin Bloxham, Đệ I Phó Chủ Tịch California Congress Of Republicans, bà Ann Katherine Browning ESQ, đại diện đảng Cộng Hòa tại Orange County, bà Theresa Maily Nguyen, Phó Chủ Tịch California Congress Of Republicans (Orange County division), ông Charves Vang, Chủ Tịch Fresno Congress Of Republicans, (Cộng Đồng Hmong), ông George Vue (cộng đồng Hmong), thuộc tổ chức chính trị Council of Laos Representative Abroad, đại diện Hoàng Gia Lào, ông C. Vang (Hmong), cô Amy Lee, đại diện cộng đồng Korea-American, ông David Kirittle và ông Rick J. Radecki, đại diện tổ chức Voice of Conservative America Political Action Committee, ông Ronie Gwyer, Cựu chiến binh Việt Nam. . .

Phần đầu của chương trình là Lễ Ký Kết Hiệp Nghị Thư Liên Minh giữa Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Tự Do và Chính Phủ Lưu Vong Hoàng Gia Lào (xin xem phần tường trình chi tiết đăng trong số báo này), để bắt đầu chuyển sang Phần Hai của chương trình là Lễ Ra Mắt Đảng Dân Tộc Việt Nam, Nhạc Sĩ Xuân Điềm và Ban Tù Ca đã đưa hội trường vào không trí thật cảm động qua hai bài hát của tác giả Nguyễn Tây Sơn (tức ông Nguyễn Hữu Chánh) sáng tác, đó là bài Việt Nam Mãi Mãi Việt Nam và bài Thanh Bình Ngày Mới (được Đảng Dân Tộc Việt Nam chọn làm Đảng Ca với tên Dân Tộc Hành Khúc).

Sau phần nghi thức khai mạc, mở đầu buổi lễ, trong lời chào mừng quan khách, Nhà văn Chu Tấn đã trình bày về tiến trình trong việc vận động, kết hợp làm việc của 14 tổ chức, lực lượng chống Cộng trong Mặt Trận Dân Tộc Tự Quyết tại quốc nội – tiền thân của Đảng Dân Tộc Việt Nam kể từ năm 2000. Sau 3 năm kết hợp hoạt động chung, nay đứng trước tình hình trong nước, ngoài nước và quốc tế có nhiều thuận lợi cho đại cuộc khởi động cách mạng nên tất cả 14 tổ chức, lực lượng trên đã thảo luận và đi đến quyết định đồng thuận hợp nhất thành một đảng cách mạng và gửi thư Thỉnh Mời đến Liên Đảng Việt Nam Tự Do và cá nhân ông Nguyễn Hữu Chánh để kêu gọi cùng hợp nhất, đồng thời đề cử ông Nguyễn Hữu Chánh vào vai trò Tổng Bí Thư Đảng. Vào 2 ngày 15 và 16 tháng 8 năm 2003, Đại Hội Đại Biểu Bất Thường của Liên Đảng Việt Nam Tự Do, qui tụ hơn 400 Đại Biểu Cơ Sở Đảng sau khi nghiên cứu và thảo luận đã hoàn toàn chấp thuận việc hợp nhất với Đảng Dân Tộc Việt Nam, cũng như đồng ý để ông Nguyễn Hữu Chánh, Chủ Tịch Đảng đảm nhận vai trò Tổng Bí Thư Đảng Dân Tộc Việt Nam. Nhà văn Chu Tấn nói rằng Đảng Dân Tộc Việt Nam ra đời chính là một đáp án lịch sử, phù hợp với yêu cầu của toàn dân Việt Nam và của nhân dân thế giới trong xu thế dân chủ hóa toàn cầu và chấm dứt các chế độ độc tài tại Đông Nam Á.

Kế tiếp, ông Nguyễn Văn Đôn đã công bố Thư Thỉnh Mời của Đảng Dân Tộc Việt Nam, nội dung như phần đã dẫn lược của Nhà văn Chu Tấn. Đặc biệt lá Thư đã nêu lên nhận định là muốn có được một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, cần phải hội đủ 3 yếu tố: Các lực lượng cách mạng và nhân dân trong nước, các lực lượng cách mạng và kiều bào hải ngoại, tranh thủ được sự đồng tình của thế quốc tế yêu chuộng tự do, dân chủ, và tình hình hiện nay trong nước cũng như hải ngoại đã hội đủ các điều kiện này, do đó Hội Đồng Sáng Lập Đảng Dân Tộc Việt Nam đã khẩn thiết mời gọi sự hợp nhất đến với các tổ chức, đảng phái đấu tranh để thống nhất lực lượng, thống nhất lãnh đạo đẩy mạnh tiến trình dứt điểm chế độ CSVN.

Sau đó ông Nguyễn Hồng Lĩnh đã tuyên đọc Nghị Quyết của Đại Hội Đại Biểu Liên Đảng Việt Nam Tự Do trong hai ngày 15 và 16 tháng 8 năm 2003 tại Little Saigon, Nam California, Hoa Kỳ. Nghị Quyết gồm 4 Điều nhấn mạnh đến sự đồng thuận của toàn thể Đại Hội trong việc Liên Đảng Việt Nam Tự Do hợp nhất với Đảng Dân Tộc Việt Nam và chấp thuận để ông Chủ Tịch Nguyễn Hữu Chánh nhận lãnh trách nhiệm Tổng Bí Thư của Đảng Dân Tộc Việt Nam. Đại Hội cũng đồng thanh xác nhận hoàn toàn đồng ý về mục tiêu, lập trường, chủ trương và đường lối chính nghĩa trong sáng của Đảng Dân Tộc Việt Nam (được đăng tãi trong số báo này).

Tiếp theo là Thư Đồng Thuận Hợp Nhất của Mặt Trận Dân Chủ Việt Nam được Tiến Sĩ Lê Hoàng, Chủ Tịch Mặt Trận đến từ Đông Âu công bố, nêu lên những nhận định về tình hình đấu tranh chung và giai trò lịch sử của Đảng Dân Tộc Việt Nam. Mặt Trận Dân Chủ Việt Nam ghi nhận những đóng góp to lớn của Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Tự Do và Liên Đảng Việt Nam Tự Do trong quá trình đấu tranh cứu nước và bày tỏ lòng ngưỡng mộ và tin tưởng đối với sự lãnh đạo của ông Nguyễn Hữu Chánh. Từ những nhận định trên Mặt Trận công bố quyết định đồng thuận hợp nhất với Đảng Dân Tộc Việt Nam để tiến hành công cuộc đấu tranh giải thể chế độ CSVN và kiến tạo một đất nước Việt Nam tự do, dân chủ, đa nguyên chính trị, đa đảng lãnh đạo một nhà nước pháp quyền. Những lời nói chí tình và quyết tâm dứt khoát đối với đảng CSVN đã được hội trường vỗ tay hoan nghinh nhiều lần.

Để chuẩn bị cho Lễ Công Bố Tuyên Ngôn, Cương Lĩnh của Đảng, 3 hồi chiêng trống đã được đánh lên. Giữa cảnh khói hương hoa đèn trên bàn thờ Quốc Tổ, tiếng chiêng, tiếng trống trầm hùng không khỏi làm mọi người xúc đông.

Tiến Sĩ Hà Thế Ruyệt đã thay mặt cho Hội Đồng Sáng Lập Đảng Dân Tộc Việt Nam (trong và ngoài nước), công bố Tuyên Ngôn gồm 7 điều: Bối cảnh lịch sử – Cơ duyên lịch sử – Thực trạng đất nước, Đảng CSVN bất xứng và bài toán nan giải Việt Nam – Sự ra đời của Đảng Dân Tộc Việt Nam là một đáp án lịch sử – Mục tiêu, lập trường, chủ trương và đường lối của Đảng Dân Tộc Việt Nam – Tinh hoa dựng nước – Những điều cam kết trước quốc dân của Đảng Dân Tộc Việt Nam và Lời kêu gọi. Trong khi đó Cương Lĩnh Chính Trị trình bày về sách lược đấu tranh cứu nước và dựng nước qua 3 giai đoạn: Giai Đoạn Cứu Nước, Giai Đoạn Ổn Định và Giai Đoạn Tái Thiết Đất Nước. Trọng tâm của Cương Lĩnh là hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc Tam Toàn: Toàn Dân, Toàn Diện, Toàn Cầu, cùng đưa ra 10 sách lược và 3 bước đấu tranh tiến tới vận động toàn dân nổi dậy chấm dứt chuyên chính vô sản.

dt5131.jpg

Sau đó ông Nguyễn Hữu Chánh đã tiến lên niệm hương trước bàn thờ tổ quốc và ngỏ lời trước đồng bào, ông tâm tình lý do tại sao ông dấn thân vào con đường cách mạng cùng tiến trình hình thành Nội Các Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Tự Do và nguyên nhân nào ông đã từ chức Thủ Tướng Chính Phủ, bởi vì hoài bão của ông là muốn được đấu tranh trực diện với Đảng CSVN ở trong nước, đó cũng là lý do ông đã nhận lời mời đứng ra lãnh trách nhiệm lãnh đạo Đảng Dân Tộc, trong vai trò Tổng Bí Thư Đảng. Ông tâm sự vào năm 1975, ông là một thanh niên vừa 26 tuổi, sót xa khi nhìn lại bối cảnh tương tàn của dân tộc mình trong suốt cuộc chiến khốc liệt vừa qua mà ông nghĩ rằng toàn thể dân tộc chỉ là nạn nhân của một thiểu số cuồng tín, giáo điều trong Bộ Chính Trị đảng CSVN. Ông nói rằng suốt trong thời gian hoạt động chống Cộng trong nước từ năm 1975 đến khi ông ra hải ngoại rồi trở về qua vỏ bọc của một chương trình nhân đạo của chính phủ Mỹ, ông đã có dịp tìm hiểu, trao đổi với nhiều người đang làm việc trong guồng máy của chế độ CSVN. Từ đó ông nhận thấy được có rất nhiều người hiện vướng mắc trong chế độ, trong quân đội CS nhưng mang trong lòng nỗi đau đớn khi biết mình bị nhóm lãnh đạo đảng lừa gạt và phản bội. Chính bởi tấm lòng yêu nước trong sáng và mãnh liệt của ông đã thuyết phục và kết hợp được các thành phần này trong hàng ngũ của Mặt Trận Dân Tộc Tự Quyết được hình thành trong quốc nội vào năm 2000. Ông kêu gọi sự dứt khoát phản tỉnh của những người trong hàng ngũ chế độ CSVN. Ôạng kêu gọi sự bao dung tha thứ của những người từng là nạn nhân trong bối cảnh lịch sử đau đớn đã qua. Ông kêu gọi toàn dân từ Nam chí Bắc, không phân biệt quá khứ chính trị, đứng lên làm cuộc cách mạng giải thể chế độ CSVN, cứu nguy dân tộc. Lời phát biểu của ông Nguyễn Hữu Chánh đã bị ngắt khoảng nhiều lần bởi những tràng vỗ tay hoan nghênh nhiệt liệt của toàn thể hội trường.

Người phát biểu cuối cùng của buổi lễ là một nữ đảng viên Đảng Dân Tộc Việt Nam hoạt động tại quốc nội. Cô Trần Thị Ngọc Anh, bí danh Bảo Ngọc được giới thiệu là một nhân viên của chính quyền Hoa Kỳ vừa hoàn tất công tác đặc biệt tại Việt Nam. Trong phần phát biểu cảm tưởng của mình, cô Bảo Ngọc đã thay mặt các đảng viên sáng lập tại quốc nội nói lên sự tin tưởng của bộ phận trong nước đối với sự lãnh đạo của ông Nguyễn Hữu Chánh, Tổng Bí Thư Đảng và cam kết sẽ cùng làm việc với Đảng Bộ Hải Ngoại để nhanh chóng giải thể chế độ Cộng Sản tại Việt Nam, hoàn thành đại cuộc cứu nước. Lời phát biểu của cô Bảo Ngọc cũng được sự tán dương nhiệt liệt của cử tọa.

Buổi lễ đã kéo dài từ 1 giờ trưa và bế mạc 7 giờ rưỡi chiều, sau màn hoạt cảnh “Dân Tộc Việt Nam” rất cảm động, do Đoàn Văn Nghệ Hướng Việt trình diễn. Trong suốt 6 tiếng rưỡi đồng hồ mọi người đều chăm chú lắng nghe và ở lại đến giờ bế mạc. Đây là một trường hợp hiếm thấy trong cộng đồng người Việt, vì sự tham dự đông đảo và thái độ tích cực theo dõi của đồng bào. Điều này chứng tỏ rằng rõ ràng đường lối, chủ trương tranh đấu của Đảng Dân Tộc Việt Nam thực sự đã đáp ứng được lòng dân. Qua từng gương mặt chăm chú theo dõi, qua những tràng pháo tay hoan hô vang dội liên tục, qua những cánh tay phất cao lá cờ vàng chính nghĩa, qua những câu trao đổi ngắn gọn mà người viết được nghe, được thấy đã nói lên một sức bật mới đang hình thành trong lòng dân tộc. Với sức bật ấy không có gì ngăn cản được bước tiến của chúng ta trên con đường giải phóng dân tộc, chấm dứt chế độ độc tài, đem lại Thanh Bình Ngày Mới cho toàn dân như tên gọi bài ca của tác giả Nguyễn Tây Sơn, mà Đảng Dân Tộc Việt Nam đã chọn làm đảng ca của đảng. Chúng ta sẽ trở về vì dân trừ bạo, bởi vì Trăm Hướng Ra Đi Lòng Một Thủy Chung – Cha Gọi Trở Về Bắc Nam Xum Họp. Nhất định “Ngày Mới” ấy phải đến, chắc chắn phải đến.

Read Full Post »

LỜI MỞ ĐẦU

Ý thức rằng: dân tộc có hòa đồng, toàn dân mới nhất trí. Nhân dân có ấm no, xã hội mới an lạc. Đất nước muôn người như một, tổ quốc mới hùng cường. Đồng bào Kinh, Thượng, trong và ngoài, không phân biệt quá khứ chính trị, cần thắt giải đồng tâm, xóa bỏ mọi dị biệt, quên đi những oan trái xưa, tay trong tay, vai kề vai, không còn chất chứa phẫn hận, chỉ có dân tộc sống còn trong vinh quang, tiến hóa và phúc lợi của đồng bào mới là mục tiêu cao cả cần nhắm tới và phải đạt cho kỳ được. Có như thế đất nước mới có thể phục hồi, dân tộc mới thoát khỏi bất công, áp bức và đọa đày.

Quan niệm rằng: hôm nay và ngày mai phải là những tháng ngày mới, dân tộc Việt Nam trước sau chỉ là một khối thống nhất, xã hội Việt Nam phải là một xã hội thượng tôn bảo trọng con người, một xã hội nhân bản, công bằng trong dân chủ, tự do, bao dung và tiến bộ, không thể đi ngược lại trào lưu phát triển và tiến hóa của thế giới. Việt Nam là chiếc nôi văn minh và nhân chủng tiền tiến của loài người cách đây gần 5000 năm. Khảo cổ học và nhân chủng học quốc tế đã chứng minh rõ rệt như thế. Cho nên, Việt Nam cấp thiết phải được giải cứu khỏi nạn cộng sản, văn minh Việt phải được phục hồi để canh tân và tiến bộ như ông cha ta đã văn minh và tiến bộ từ những ngàn năm xưa.

Ai cũng thấy rõ rệt: Đất nước Việt Nam là giải giang sơn gấm vóc, thật là “minh châu của trời Đông. Núi cao, rừng thẳm, sông dài, biển cả mênh mông, không thiếu một tài nguyên hiếm quý nào mà ta không có, không thiếu của ngon vật lạ nào mà ta không được thừa hưởng. Đất nước Việt Nam thì giàu đẹp từ những ngàn xưa. Bao nhiêu danh lam thắng cảnh. Quả là một đất nước lang hoàn phú địa cho nên tổ tiên ta mới đặt tên nước là Văn Lang. Đất đẹp người hiền, thông minh và quả cảm, thực là miền địa linh nhân kiệt. Ấy thế mà nay, Việt Nam là nước nghèo nhất thế giới, lạc hậu nhất Á Châu, lầm than nhất Đông Nam Á. Lỗi ấy, thảm họa dân tộc ấy do từ đâu? Không do đâu khác hơn là do một nhóm thiểu sống đang thống trị đất nước dưới danh hiệu Bộ Chính Trị của Đảng CSVN.

Ai cũng biết rõ ràng: kể từ sau biến cố 30 tháng 4 năm 1975, lãnh thổ Việt Nam đã được thống nhất, nhưng trên thực tế từ đấy đến nay toàn dân tộc chưa từng được thống nhất. Đảng CSVN đã không thống nhất được lòng người. Do sự bất lực lại độc đoán chuyên quyền, nhóm thiểu số lãnh đạo, tức Bộ Chính Trị đã không có khả năng lãnh đạo đất nước, càng ngày dân tâm càng phân hóa, dân tộc càng cách ly, xã hội càng lúc càng băng hoại và thoái hóa. Đâu đâu cũng chỉ thấy cảnh người bóc lột người, người đọa đày người, tham nhũng lan tràn mà nguyên nhân phát sinh vẫn do nhóm thiểu số lãnh đạo ở Bộ Chính Trị.

Nhận định rằng: Tập đoàn lãnh đạo Bộ Chính Trị đã âm thầm ký kết Hiệp Nghị Nhượng Đất (ngày 30-12-1999) và Hiệp Nghị Dâng Biển (ngày 20-12-2000) cho Trung Cộng. Thêm một lần nữa, hành động này đã lột trần bộ mặt bán nước hại dân phản bội Tổ Quốc, phản bội Tổ Tiên và phản bội Dân Tộc mà tập đoàn Chính Trị Bộ Cộng Sản không thể nào chối cãi được!

Nhận định rằng: Dân tộc Việt Nam đang bên lề diệt vong do đói khổ, lầm than, bệnh tật, ô nhiễm môi sinh. Đâu đâu cũng là độc tố, từ thành thị đến nông thôn, từ rừng cao núi thẳm, ruộng vườn đến sông suối, hải cảng biển khơi. Về mậu dịch và trên thương trường, dưới sự lãnh đạo sai lầm, thoái hóa và bất nhất của Bộ Chính Trị – Đảng CSVN đã mất chữ TÍN đối với quốc tế, đã không còn lòng tin cậy và nể trọng trong cộng đồng thế giới.

Nhận định rằng: Chế độ CSVN đương tại do một nhóm độc quyền chuyên chính, thoán đoạt qua Bộ Chính Trị mà thực chất chỉ là một cơ chế hủ bại, thoái hóa, ung thối và sa đọa trầm trọng, tuyệt đối không có khả năng quản lý và điều hành guồng máy quốc gia, càng ngày càng đưa đất nước đến cảnh khốn cùng và bế tắc toàn bộ.

Ý thức rằng: Trong chiều hướng phát triển chung của thế giới ngày nay, khuynh hướng dân chủ, tự do và kinh tế thị trường trong tinh thần dân tộc nhân chủ là những yếu tố cần và đủ để đưa một quốc gia thoát khỏi tình trạng độc tài nghèo khó.

Quan niệm rằng: Việt nam cần có một hàng ngũ lãnh đạo mới, xuất thân từ hàng ngũ những người yêu nước, yêu dân tộc và tinh thần dân chủ tự do, không phân biệt quá khứ chính trị, có khả năng xây dựng một thế đứng an toàn, thuận lợi và xứng đáng cho Việt Nam trong cộng đồng thế giới đầy tương quan quyền lợi và trách nhiệm hiện nay.

Ý thức rằng: Chúng ta phải nhập cuộc với lòng bao dung, tình đồng bào, tình thương và trí tuệ. Chỉ có ý chí dân tộc và trí tuệ mới của một dân tộc tự tỉnh thức, người người tự phản tỉnh, tự giác ngộ mới có thể giải phóng được dân tộc bằng con đường đại hòa và đại kết. Chỉ có cái tâm của dân tộc và một tinh thần khai phóng tiến bộ mới có thể phục hưng được dân tộc và tái thiết đất nước.

Quan niệm rằng: Đã đến lúc đất nước cần phải khai thông những bế tắc nội tại để cùng toàn dân quyết tâm nhất trí xây dựng lại một xã hội Việt Nam mới, thực sự có dân chủ chân chính, có đầy đủ tự do, cơm no, áo ấm và tiến bộ. Đất nước là đất nước chung, đại cuộc phục hưng dân tộc và canh tân đất nước và cách mạng xã hội phải do toàn dân, toàn quốc và do nhiều đảng, nhiều đoàn thể cùng nhau chung lưng góp sức để lãnh trách nhiệm với vai trò tiền phong trong công cuộc phục hưng dân tộc và tái thiết dân chủ hóa Việt Nam.

Để đáp lại tiếng gọi thiêng liêng của tổ quốc, thể theo ý nguyện của toàn dân và cũng vì dân sinh phúc lợi của đồng bào, vì mưu cầu chung cho sự thịnh vượng và dân chủ của đất nước, Đảng Dân Tộc Việt Nam long trọng công bố Cương Lĩnh Chính Trị của Đảng, bao gồm đường lối, sách lược của Đảng qua ba giai đoạn chiến lược: Cứu Nước, Ổn Định và Xây Dựng Đất Nước.

GIAI ĐOẠN CỨU NƯỚC

 A – CĂN BẢN TƯ TƯỞNG

       Đặc điểm và thế giá của cuộc cách mạng: Cuộc cách mạng của chúng ta là cuộc cách mạng DÂN TỘC NHÂN CHỦ (Triết Lý Nhân Chủ và hệ Tư Tưởng Dân Tộc) Đó là đứng về phương diện tư tưởng, chủ nghĩa mà đặt tên cho cuộc cách mạng. Còn đứng về phương diện đặc điểm và thế giá của cuộc cách mạng mà gọi thì đây là cuộc Cách mạng DÂN TỘC TAM TOÀN: TOÀN DÂN, TOÀN DIỆN VÀ TOÀN CẦU (Vận Động Cộng đồng Hải Ngoại và Vận Động Quốc Tế).

         Mục Tiêu và Tổng Lực cách mạng:

·       Xác định mục tiêu của cuộc cách mạng: dứt khoát giải thể chế độ Cộng sản để xây dựng một chế độ Dân Chủ Tự Do, ấm no, phúc lợi đưa đất nước đến giàu mạnh và vinh quang.

·       Xác định mục tiêu tấn công: Toàn dân đứng lên giải thể chế độ Cộng sản nhưng không cần lên án tất cả hay tấn công tất cả mà cách đánh hay nhất của chúng ta chỉ cần lật đổ chính trị bộ Cộng sản, giải tán tức khắc các cấp Đảng ủy trong chính quyền Cộng sản từ Trung Ương đến địa phương.

·        Hình Thành Tổng lực cách mạng:

Tổng lực cách mạng gồm:

1.    Đồng Bào Quốc Nội, kể cả công an, bộ đội, viên chức Cộng sản phản tỉnh là Chủ Lực Cách Mạng.

2.    Đồng bào Hải Ngoại: là Trợ Lực Cách Mạng.

3.    Các Quốc Gia Đồng Minh: là Viện Lực Cách Mạng.

Đảng Dân Tộc nhận định rằng: Chỉ có Tổng Lực Cách Mạng Dân Tộc mới đủ khả năng lật đổ Chính Trị Bộ Cộng Sản Việt Nam.

 B – CHỦ TRƯƠNG VÀ ĐƯỜNG LỐI

1.    Mở lối thoát cho 2 triệu đảng viên cộng sản trở về với chính nghĩa dân Tộc: Tới nay mọi người dân Việt đều thấy rõ rằng Chính Trị Bộ Cộng Sản không có đủ khả năng lãnh đạo và quản trị đất nước, nhưng mặt khác chúng ngoan cố, ù lỳ và gia sức bám ghế bằng mọi giá. Có người cho rằng đảng Cộng sản hiện nay không còn là Đảng Cộng sản nữa mà chỉ là đảng Mafia đỏ. Song điều chúng ta đừng quên rằng Chính trị Bộ Cộng sản hiện đang cầm đầu một đảng Mafia có chính quyền. Muốn lật đổ bọn này, chúng ta phải có sách lược phân tán, chia cắt đảng cộng sản thành nhiều mảnh. Không những thế, chiến lược hay nhất của chúng ta là cô lập hoàn toàn Chính Trị Bộ cộng sản với 2 triệu đảng viên của họ. Nhằm thực hiện chiến lược này, Đảng Dân Tộc Việt Nam chủ trương giải cứu hơn 2 triệu đảng viên Cộng sản và gia đình họ, tạo cơ hội cho họ bỏ thẻ đảng, xé thẻ đảng, đứng hẳn về phía nhân dân tham gia lực lượng cách mạng dân tộc, lật đổ chế độ cộng sản. Mở con đường sống, mở lối thoát cho 2 triệu đảng viên cộng sản và gia đình họ từ bỏợ chế độ cộng sản, chính là tiền đề cho cuộc giải cứu Dân Tộc, giải cứu đồng bào Việt Nam thoát khỏi đại họa cộng sản.

2.    Mời gọi bộ đội và công an, viên chức Cộng sản cùng tham gia lực lượng Cách Mạng Dân Tộc: Trong tiến trình cứu nước chúng ta không những cấm chỉ mọi cuộc trả thù trả oán mà còn mời gọi các Bộ Đội, Công An, Viên Chức Hành Chánh bỏ thể đảng, xé thẻ đảng Cộng sản cùng đứng chung dưới lá cờ Đại Nghĩa Dân Tộc, cùng góp sức, góp công lật đổ Chính Trị Bộ Cộng Sản cùng tham gia vào sự nghiệp cứu nước cứu dân.

3.    Cuộc cách mạng của chúng ta mang tính cách DÂN TỘC chứ không QUỐC TẾ, mang tính chất TOÀN DÂN chứ không phải của một GIAI CẤP: Chủ nghĩa Mác-Lénin, chủ trương Quốc Tế xoá bỏ biên cương Quốc Gia. Nhưng hơn một thế kỷ qua đã chứng minh rằng các phong trào Quốc Tế Cộng Sản (dù là Đệ Nhất Quốc tế, Đệ Nhị quốc tế, Đệ Tam hay Đệ Tứ quốc tế v.v…) đều đã thất bại và phá sản hoàn toàn. Chúng ta chủ trương DÂN TỘC, chứ không QUỐC TẾ. Ngay ở thời điểm thế kỷ 21, nhân loại bước vào kỷ nguyên TOÀN CẦU HÓA KINH TẾ VÀ CHÍNH TRỊ, biên giới các quốc gia, và bản vị DÂN TỘC vẫn mãi mãi tồn tại. Ngày nào nhân loại còn hiện diện trên trái đất thì biên giới QUỐC GIA và bản sắc, bản vị DÂN TỘC vẫn mãi mãi trường tồn qua hằng thế kỷ. Chúng ta chủ trương cuộc cách mạng TOÀN DÂN chứ không phải cuộc cách mạng cho bất cứ một GIAI CẤP, ĐẲNG CẤP nào! Lực lượng cách mạng Dân Tộc bao gồm các thành phần sau:

       Trí thức.

       Sĩ phu toàn quốc (Bắc, Trung, Nam, Đại Diện đồng bào sắc tộc Cao Nguyên, và Sĩ Phu Hải Ngoại).

       Các nhà lãnh đạo tôn giáo và tín đồ các tôn giáo.

       Văn nghệ sĩ, thanh niên, phụ nữ.

       Nông dân, công nhân, thương gia và những người buôn bán lẻ.

       Cựu quân nhân Cộng sản, cựu quân nhân Quân Lực VNCH.

       Đặc biệt là các bộ đội và công an, viên chức hành chánh Cộng Sản đã thức tỉnh, phản tỉnh, đứng vào hàng ngũ Cách Mạng Dân Tộc.

       Cùng toàn thể đồng bào Việt Nam không chấp nhận chế độ Cộng Sản tại Quốc Nội cũng như Hải Ngoại.

4.    Cuộc cách mạng Dân Tộc mang tính chất TỔNG THỂ TOÀN DIỆN PHỐI HỢP VÀ VẬN DỤNG: Muốn cứu nguy đất nước và dân tộc, chúng ta không thể chỉ áp dụng một biện pháp đơn phương nào như: đấu tranh Nhân Quyền, đấu tranh cho Tự Do Tôn Giáo, hay đấu tranh Dân-Chủ-Hóa đất nước, đấu tranh đòi CSVN bỏ điều 4 hiến pháp hay quan trọng nhất: Đấu tranh đòi quyền Dân Tộc Tự Quyết mà có thể thành công. Mặt khác, chúng ta cũng không làm công việc chống đối các giải pháp này vì nhận thức rằng mỗi biện pháp vừa đề cập, đều có ưu, và khuyết điểm, đều có giá trị và giới hạn nhất định. Từ sự suy xét và nghiên cứu trên, tới đây vấn đề đặt ra là: Cuộc cách mạng muốn thành công chúng ta phải CHỌN LỰA một hay vài ba giải pháp trên hay VẬN DỤNG tất cả các giải pháp trên? Giờ đây vấn đề đã quá rõ: cuộc cách mạng Dân Tộc không CHỌN LỰA mà VẬN DỤNG tất cả các giải pháp trên, đồng thời sáng tạo ra rất nhiều giải pháp đấu tranh hữu hiệu khác.

5.    Cuộc Cách mạng Dân Tộc mang tính chất TOÀN CẦU (Vận Động Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại và Vận Động Quốc Tế): Sau biến cố 1975 Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại đã nghiễm nhiên trở thành một thực thể chính trị, một bộ phận quan yếu của sinh mệnh dân tộc. Nay Cộng Đồng người Việt hải ngoại đã tăng lên 2.7 triệu người và có một tiềm lực rất lớn về kinh tế, chính trị, văn hóa và khoa học kỹ thuật. Điều đặc biệt Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại không phải chỉ giữ vai trò thụ động, yểm trợ cho cuộc đấu tranh giải Cộng tại quốc nội mà còn giữ vai trò tích cực trong công cuộc Vận Động Quốc Tế. Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại vừa là địa bàn tiếp cận vừa là môi trường thích hợp nhất cho công cuộc vận động Quốc Tế mà đồng bào quốc nội không thể có được. Chúng ta có thể nói mỗi người dân tỵ nạn cộng sản là một sứ giả vận động quốc tế, giúp chúng ta bẻ gẫy mọi âm mưu, ý đồ vận động ngoại giao và Quốc Tế Vận của Chính Trị Bộ và nhà nước CSVN! Bước sang thế kỷ 21, nhân loại đã sang một kỷ nguyên mới, không phải chỉ ngừng lại ở nền Kinh Tế toàn cầu, Văn Hóa toàn cầu, mà còn “Chính Trị toàn cầu” và “Tôn Giáo toàn cầu”, nên cuộc cách mạng Dân Tộc của Việt Nam đương nhiên phải mang tính chất “toàn cầu”, phù hợp với xu hướng quốc tế của thời đại, phù hợp với thế chính trị toàn cầu, nhất là phù hợp với thế chính trị và quyền lợi của siêu cường đệ nhất là Hoa Kỳ, phù hợp với quyền lợi của các khối Tây Âu, Mỹ châu, Úc châu và quyền lợi của các nước Đông Nam Á.

6.    Muốn tiến hành cuộc cách mạng toàn dân, toàn diện và toàn cầu, điều tiên quyết là phải lật đổ nhóm tham nhũng độc quyền là Bộ Chính Trị – đảng CSVN. Không lật đổ được Bộ Chính Trị – đảng CSVN thì không thể tiến hành được đại cuộc giải phóng dân tộc để phục hưng và tái thiết đất nước trong hòa hợp dân tộc và vì ích lợi chung của xã hội để đưa đất nước qua thời đại mới, dân chủ và tiến bộ.

7.    Tinh Thần Dân Tộc Tự Quyết là con đường thích hợp và tốt nhất cho nhân dân Việt Nam trong tiến trình cứu nước và xây dựng lại đất nước, phục hưng lại dân tộc. Do vậy, người Việt Nam phải chủ động giải quyết những vấn đề còn lại của đất nước và dân tộc mình.

8.    Dân Tộc Nhân Chủ là tư tưởng chủ đạo và là chủ thuyết thích hợp nhất cho Việt Nam. Tuy nhiên, ngoại trừ chủ nghĩa Cộng sản, Đảng Dân Tộc Việt Nam không bài bác các chủ thuyết và chủ nghĩa chân chánh khác trên thế giới, nếu như những tư tưởng này không đi ngược lại quyền lợi của Tổ quốc và bản sắc văn hóa Việt Nam.

9.    Không một ai, không một người nào lại không muốn lật đổ một chế độ độc tài thối nát. Cho nên, ai ai cũng có quyền tham dự vào cuộc cứu nước để dựng lại nước. Vũ khí là tình thương. Phương châm là một Việt Nam đại hòa đồng, đại đoàn kết.

10. Giải quyết các vấn đề của đất nước và dân tộc, trước sau đều phải đặt trên căn bản của ý thức hòa hợp dân tộc và tinh thần dân tộc tự quyết. Người Việt phải xóa bỏ mọi ngăn cách do dị biệt quá khứ, do cách ly về lập trường chính trị, mới có thể cùng nhau giải quyết các vấn đề chung của đất nước và dân tộc. Sẵn sàng vận dụng sự hậu thuẫn vô điều kiện và chân thành của các nước và các tổ chức quốc tế yêu chuộng dân chủ tự do, nhưng ta phải tự giải cứu ta trước.

11. Thành tâm hợp tác và liên minh với các đảng phái, mặt trận, phong trào, hội đoàn, các cộng đồng, các tập thể xã hội, sắc tộc, tôn giáo và cá nhân ở trong nước cũng như ở hải ngoại có cùng chung quan điểm và mục đích cứu nước, dựng nước nên không phân biệt quá khứ hay vị trí hiện tại, kể cả những người yêu nước vẫn còn ở trong guồng máy cầm quyền CS miễn là dứt khoát từ bỏ chế độ CSVN.

12. Việt Nam hoàn toàn độc lập về chủ quyền. Đảng Dân Tộc Việt Nam phủ nhận giá trị các hiệp ước, văn kiện, hợp đồng… xét thấy không phù hợp, có chủ ý xâm phạm tới quyền lợi tối thượng của Tổ Quốc và Dân Tộc Việt Nam.

 C – CÁC SÁCH LƯỢC CĂN BẢN:

1.    Sách lược đấu tranh Dân Chủ Hóa tại Việt Nam. Phát động chiến dịch đấu tranh Dân Chủ Hóa Việt Nam tiến tới chấm dứt chuyên chính vô sản.

2.    Sách lược Toàn Dân Công Tâm.

3.    Sách lược Hòa Đồng Dân Tộc.

4.    Sách lược Du Kích Truyền Thông và Truyền Thông ồ ạt thẩm thấu quần chúng.

5.    Sách lược Bộ Đội Vận, Công An Vận và Quần Chúng – Tôn Giáo Vận.

6.    Sách lược Vận Dụng và Phối Hợp 3 mặt trận Quốc Nội – Hải Ngoại – Quốc Tế.

7.    Sách lược Tình Báo và Phản Tình Báo.

8.    Sách lược Đánh Vào Các Tử Huyệt Cộng Sản.

9.    Sách lược Đặc Nhiệm (Đánh thẳng vào các trung tâm đầu não, Chính Trị Bộ CS, đồng thời vô hiệu hóa các công cụ bạo lực, phản cách mạng, phản dân tộc).

10. Sách lược Toàn Dân Vận Động Quật Khởi Chấm Dứt Chuyên Chính Vô Sản.

D – XÁC ĐỊNH CÁC PHƯƠNG PHÁP VÀ LOẠI HÌNH ĐẤU TRANH:

Đảng Dân Tộc Việt Nam chủ trương 4 phương pháp hay 4 loại hình đấu tranh sau:

1.    Đấu tranh chính thức (công khai).

2.    Đấu tranh bán chính thức (bán công khai).

3.    Đấu tranh bí mật.

4.    Đấu tranh tổng thể: Toàn Dân, Toàn Diện và Toàn Cầu.

Trong 4 phương pháp đấu tranh này, Đảng Viên Đảng Dân Tộc đều tích cực, chủ động tham gia để đẩy phong trào đấu tranh đạt kết quả hữu hiệu mau chóng biến thành cao trào đấu tranh chung của toàn dân.

 E – CHƯƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG CĂN BẢN:

Nhằm thiết dựng một chương trình hành động tổng thể cho giai đoạn cứu nước và rút ngắn ngày về, Đảng Dân Tộc Việt Nam chủ trương song song thực hiện 3 bước đấu tranh sau:

 Bước thứ Nhất:

Đấu tranh đòi Dân chủ hóa Việt Nam song hành đấu tranh đòi Nhân Quyền; Đấu Tranh đòi Tự Do Tôn Giáo; Đấu tranh đòi Tự Do Báo Chí; Đấu tranh chống tham Nhũng; Đấu tranh đòi lại nhà đất đã bị chiếm; Đấu tranh đòi chấm dứt kỳ thị và đối xử bất công, độc ác với đồng bào sắc tộc thiểu số tại Tây nguyên. Đấu tranh đòi cải tiến Dân Sinh Dân Chủ v.v…

·        Trọng tâm công tác đấu tranh Quốc nội:

Đồng bào quốc nội gửi thư lên Quốc Hội Cộng Sản đòi Dân Chủ Hóa và thành lập Phong Trào đòi Dân Chủ Hóa đất nước.

       Yêu cầu thả tù chính trị (những người bất đồng chính kiến với Đảng Cộng sản).

       Đòi hủy bỏ Nghị Định 31/ CP. về quản chế hành chánh.

       Tố cáo tham nhũng và thành lập các tổ chức chống tham nhũng.

       Đòi hủy bỏ Nghị Định 26/CP về kiểm soát tôn giáo.

       Đòi phục hoạt các Giáo Hội.

       Đòi hủy bỏ các tổ chức tôn giáo quốc doanh.

·        Trọng tâm công tác tại Hải Ngoại:

Mở chiến dịch dựng ngọn cờ Vàng 3 sọc đỏ, tranh đấu để các Thị Trưởng các thành phố thuộc 50 Tiểu Bang Hoa Kỳ đều công nhận lá cờ vàng 3 sọc đỏ là lá cờ tiêu biểu cho người tỵ nạn Cộng sản, tiêu biểu cho chính nghĩa Quốc Gia. Chúng ta không công nhận lá cờ máu của Cộng sản vì đó là lá cờ của riêng một Đảng Cộng sản, không thể đại diện, tiêu biểu cho cả một chế độ, một quốc gia.

Tích cực vận động Quốc Tế và vận động đồng bào Hải Ngoại yểm trợ đồng bào Quốc Nội tranh đấu Dân-Chủ-Hóa đất nước, tranh đấu cho Nhân Quyền và Tự Do Tôn Giáo tại Việt Nam, chống tham nhũng nay đã thành quốc nạn của Dân Tộc.

·       Nhiệm vụ của các Đảng viên Đảng Dân Tộc Việt Nam:

Vừa phổ biến tuyên ngôn cương lĩnh, đường lối đấu tranh Dân Tộc, Toàn Dân, Toàn Diện và Toàn Cầu của Đảng Dân Tộc, vừa hòa mình với các phong trào tranh đấu chung của Hải Ngoại, lẫn Quốc Nội. Tích cực phổ biến tài liệu của Đảng Dân Tộc. Kêu gọi Bộ Đội, Công An và Viên Chức hành chánh từ bỏ đảng Cộng sản, khai triển các sách lược đấu tranh căn bản của Đảng Dân Tộc Việt Nam. Nếu cần Đảng Dân Tộc sẽ chỉ định một bộ phận đấu tranh ra công khai. Đẩy mạnh phong trào Dân-Chủ-Hóa tại Việt Nam.

 Bước thứ Hai

Tích cực đấu tranh đòi Dân-Chủ-Hóa Việt Nam, Đòi Nhân Quyền và Tự Do Tôn Giáo tại Việt Nam. Chống tham nhũng và Cải Tiến Dân Sinh Dân Chủ như giai đoạn 1, song đẩy mạnh hơn, đòi bãi bỏ điều 4 hiến pháp và buộc Chính Trị Bộ và Nhà Nước Cộng Sản phải đáp ứng cụ thể như: Cho phép ra báo tư nhân: giải tán các tổ chức Tôn Giáo Quốc Doanh; giải tư tất cả các công ty Quốc Doanh; bãi bỏ các cấp Ủy Đảng trong quân đội; thả tù chính trị; phục Hoạt các Giáo Hội và trả lại các tài sản của các giáo hội đã bị CSVN tịch thu; cho phép lập Hội lập Đảng; công nhận đối lập v.v. và v.v…

·        Trọng Tâm Công Tác Đấu Tranh Tại Quốc Nội:

Phổ biến ý thức không sợ tù, không sợ chết, sẵn sàng đấu tranh trực diện với bạo lưc cộng sản. Vận động đồng bào các giới tham gia đông đảo các tổ chức đấu tranh chống tham nhũng, đòi lại ruộng đất đã bị “cường hào ác bá đỏ” cũng như chính quyền địa phương cộng sản lấn chiếm hoặc tước đoạt dưới danh nghĩa này hay danh nghĩa khác. Vận động quần chúng tôn giáo biểu tình gây áp lực buộc CSVN phải giải tán các tổ chức Tôn Giáo Quốc Doanh, phục hoạt lại các giáo hội tôn giáo chính thống. Liên kết đấu tranh Quốc Nội, Hải Ngoại và Quốc Tế.

·        Trọng Tâm Công Tác Đấu Tranh Tại Hải Ngoại:

Vận động lưỡng viện Quốc Hội Hoa Kỳ chấp thuận Đạo Luật Nhân Quyền và Đạo Luật Truyền Thông áp dụng tại Việt Nam. Tố cáo CSVN đàn áp, nhân quyền và tự do tôn giáo. Thành lập các Phong trào Hải Ngoại Yểm Trợ và vận động đồng bào trong nước vùng dậy giải thể chế độ Cộng sản. Kêu gọi đồng bào hải ngoại tích cực tham gia Đảng Dân Tộc Việt Nam (Bộ Phận Hải Ngoại) và hậu thuẫn tích cực cho Đảng dân Tộc Việt Nam trực diện đấu tranh tại Quốc Nội. Tích cực vận động Quốc Tế yểm trợ hữu hiệu cho cuộc đấu tranh Dân Chủ Hóa được toàn thắng tại Việt Nam.

  • Nhiệm Vụ của Đảng Viên Đảng Dân Tộc Việt Nam:

Tiếp tục phổ biến sâu rộng hơn nữa Tuyên Ngôn, Cương Lĩnh của Đảng Dân Tộc Việt Nam. Tham gia các phong trào đấu tranh công khai hoặc bán công khai tại Hải Ngoại và Quốc Nội. Khai triển các sách lược của Đảng Dân Tộc về đấu tranh tình báo, tâm lý chiến, tư tưởng chiến, truyền thông chiến, kỹ thuật chiến, quần chúng chiến. Tổ chức các cơ sở quần chúng. Đẩy mạnh công tác Bộ Đội vận, Công An vận, Trí Thức vận, Tôn Giáo vận, Kinh Tế vận, Văn Hóa vận v.v… Kêu gọi các bộ đội, công an, viên chức Cộng Sản công khai hay bí mật gia nhập Đảng Dân Tộc Việt Nam. Kêu gọi các Phong Trào, Mặt Trận, Đảng Phái sát nhập hoặc Liên Minh với Đảng Dân Tộc Việt Nam để có sức mạnh Tổng Lực lật đổ Chính Trị Bộ CSVN. Vận động và phối hợp đấu tranh nhịp nhàng hữu hiệu giữa 3 mặt trận Quốc Nội, Hải Ngoại và Quốc Tế.

 Bước thứ Ba:

Bước thứ Ba vừa tổng hợp công tác đấu tranh của Bước 1 + 2 vừa nâng cao hơn, cường độ đấu tranh mạnh hơn, không chỉ đòi thực thi dân chủ hóa, mà còn đòi đa nguyên đa đảng, đòi CSVN phải trả lại Quyền Dân Tộc Tự Quyết cho Dân Tộc Việt Nam. Tất nhiên Chính Trị Bộ Cộng Sản, dù có bị thế giới lên án mạnh mẽ quyết liệt về Nhân Quyền đến đâu chăng nữa, cũng không dễ gì chịu thoái nhượng quyền hành! Do đó chúng sẽ chỉ nhượng bộ phần nào về Nhân Quyền và Tự Do Dân Chủ hoặc chúng sẽ ngoan cố phát xít hóa guồng máy chính quyền thẳng tay đàn áp đối lập. Trong cả hai trường hợp này đều bất lợi cho chúng! Bất luận chúng phản ứng cách nào, chúng ta cũng phát động cuộc đấu tranh tổng thể, vận động đồng bào cùng nhất tề đứng lên quật khởi lật đổ Chính Trị Bộ CSVN để hoàn thành cuộc cách mạng Dân Tộc mà toàn dân đang mong đợi với sự biểu đồng tình của thế giới Dân Chủ Tự Do, nhất là có sự đồng thuận của Siêu Cường Hoa Kỳ và các quốc gia Đông Nam Á.

·        Trọng Tâm Công tác Đấu Tranh Tại Quốc Nội:

Thực hiện một cuộc Tổng Nổi Dậy của Toàn Dân chấm dứt chuyên chính vô sản!

Tấn công vào các cơ quan đầu não, lật đổ Chính Trị Bộ Cộng Sản đồng thời vô hiệu hóa các công cụ bạo lực ngoan cố phản cách mạng. Vận động đồng bào các giới tổ chức ngày toàn dân Quật Khởi giải thể chế độ cộng sản, mở ra trang sử mới, một vận hội mới đầy tốt đẹp huy hoàng cho Dân Tộc Việt Nam.

·      Trọng Tâm Cộng Tác Đấu Tranh tại Hải Ngoại:

Theo dõi, hưởng ứng vận động và yểm trợ tích cực cho ngày Toàn Dân Quật Khởi Lật Đổ Chính Trị Bộ CSVN.

·      Nhiệm Vụ của Đảng Viên Đảng Dân Tộc Việt Nam:

Bộ Phận Quốc Nội: Thực hiện cuộc đấu tranh tổng thể Toàn Dân Toàn Diện. Người Đảng Viên đảng Dân Tộc vừa là “người tổ chức đấu tranh”, vừa là “hạt nhân” của cuộc cách mạng Dân Tộc vừa là “chất men” làm bùng lên sức sống, sức mạnh thần kỳ của dân tộc cùng với toàn dân hoàn thành sứ mạng lịch sử: Giải thể chế độ Cộng Sản Việt Nam.

Bộ Phận Hải Ngoại: Phát huy thành quả Quốc Nội, vận động Cộng Đồng Hải Ngoại và Vận Động Quốc Tế nhanh chóng lên tiếng can thiệp và tích cực ủng hộ cuộc Cách Mạng Dân Tộc thành công trọn vẹn như một kỳ tích của dân Tộc Việt Nam trong thế kỷ 21.

GIAI ĐOẠN ỔN ĐỊNH

A – CHỦ TRƯƠNG:

1.    Phối hợp với các đảng phái, đoàn thể, cá nhân có quá trình đấu tranh giải thể chế độ cộng sản để hình thành một chính quyền lâm thời; chung sức lãnh đạo đất nước cho đến khi một chính quyền dân cử thực sự được hình thành tốt đẹp.

2.    Cấp thời thực hiện kế hoạch tái phối trí quốc phòng, bảo vệ an ninh lãnh thổ, ổn định an ninh nội địa và phục hồi các sinh hoạt trọng yếu của xã hội. Thành lập cơ quan báo chí, truyền thông mới của Chính Phủ Lâm Thời Quốc Gia Việt Nam trên căn bản phi chính trị đảng phái.

3.    Cải tổ guồng máy hành chính quốc gia từ trung ương đến địa phương cho thích hợp với tình hình và yêu cầu mới nhưng không gây ra xáo trộn. Guồng máy quản trị điều hành chính phủ phải được liên tục.

4.    Cấp thời thiết lập các kế hoạch vận động Quốc Nội và Hải Ngoại, đặc biệt là lãnh vực ngoại giao và kinh tế.

5.    Hình thành Quốc Hội Lâm Thời để chính thức soạn thảo Hiến Pháp mới, chuẩn bị môi trường và điều kiện tổ chức cuộc tổng tuyển cử tự do, lựa chọn một thành phần lãnh đạo cho một chính quyền dân cử mới.

6.    Thiết lập cơ chế Tư Pháp Lâm Thời, phối hợp với Quốc Hội Lâm Thời và Chính Phủ Lâm Thời cùng soạn thảo các sắc luật bảo vệ an ninh công cộng, quyền hạn và quyền lợi nhân dân trong giai đoạn chờ đợi luật pháp từ Hiến Pháp mới.

7.    Công bố Hiến Chương Lâm Thời và các Đạo Luật, Sắc Luật căn bản và cần thiết cho giai đoạn ổn định và phát triển đất nước.

8.    Tái phục hồi và làm sống động các sinh hoạt cộng đồng xã hội từ nông thôn đến thành thị, từ miền biển đến miền núi. Giải phóng toàn dân khỏi chế độ cùm kẹp, áp bức. Người dân phải được hưởng đầy đủ các quyền tự do căn bản. Dân quyền và nhân quyền phải được thượng tôn. Quyền tư do tôn giáo là quyền thiêng liêng phải được tức khắc trả lại cho tôn giáo.

9.    Tự do ngôn luận, tự do lập hội, tự do báo chí… là những quyền tự do căn bản của con người phải được phục hồi và thượng tôn theo luật định của pháp chế dân chủ. Để bảo đảm cho các quyền tự do căn bản kể trên, quyền tự do di chuyển, tự do in ấn và phát hành phải được tuyệt đối tôn trọng.

10. Thành lập Hội Đồng Thường Vụ, qui tụ các nhân sĩ các sắc tộc để soạn thảo các chương trình và kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội, dân sinh, giáo dục, y tế… ở Tây Nguyên, Thượng Du và các khu vực có đồng bào sắc tộc sinh sống. Đồng thời soạn thảo qui chế tòa án, phong tục dành cho đồng bào các sắc tộc.

11. Phối hợp với các cộng đồng người Việt hải ngoại, vận động đồng bào ở nước ngoài tham gia các chương trình tái thiết đất nước, đầu tư và du lịch. Kêu gọi, vận động và phối hợp đồng bào nước ngoài yểm trợ chính quyền mới về ngoại vận, cứu trợ y tế, ngoại viện về giáo dục, phát triển cộng đồng.

12. Vinh danh và tạo điều kiện tiếp tục phục vụ đất nước đối với những cá nhân, đoàn thể, hiệp hội, tổ chức… có quá trình đấu tranh dân chủ hóa, nhất là có công lập thành tích lớn, xuất sắc trong việc hoàn thành cuộc cách mạng Dân Tộc, hay có công phát triển cộng đồng người Việt ở hải ngoại.

13. Tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động phát huy văn hóa, cải thiện xã hội, phát triển dân sinh và nâng cao dân trí. Cấp thời thực hiện các chương trình tương trợ đặc biệt cho tập thể đồng bào Việt Nam nghèo đang sinh sống ở Cao Miên, Lào và Thái Lan.

14. Phối hợp với cộng đồng người Việt ở hải ngoại, vận động bà con Việt Kiều tham gia các chương trình tái thiết đất nước, đặc biệt là sự đóng góp tiềm năng chất xám và kinh tế.

15. Vận động sự trợ giúp nhân đạo của các hiệp hội phi chính phủ (N.G.O.) sự trợ giúp kinh tế, khoa học, kỹ thuật từ chính quyền các quốc gia bạn.

16. Phát động chiến dịch “thắt giải đồng tâm”, “nối vòng tay lớn” giữa quốc nội và quốc ngoại trong bối cảnh mới của đất nước, hóa giải mọi bất đồng xa cách trong quá khứ để hướng về một tương lai “trong ngoài hợp nhất một nhà” vì phúc lợi chung của dân tộc và một tổ quốc thịnh vượng và đại hòa đồng.

B – CÁC CÔNG TÁC CẤP THỜI:

1.    Công bố Tuyên cáo của Chính Phủ Lâm Thời liên quan đến: – Quốc Phòng – An ninh địa phương – An ninh và trật tự công cộng – Tuyệt đối cấm những vụ trả thù trả oán – Những biện pháp đối phó với những bất ổn tại địa phương – Nghiêm cấm mọi hành động cướp bóc, hôi của, và mọi hình thức tiêu hủy tài liệu hay tẩu tán tài sản quốc gia. Mọi sự chuyển nhượng tài sản, đất đai bất chính sẽ bị thu hồi. Trong trường hợp nghiêm trọng có thể bị tịch thu không bồi hoàn – Chận đứng những vụ bán đất mờ ám cho người ngoại quốc – nghiêm cấm buôn lậu và ngăn chặn các tệ đoan xã hội – Những biện pháp đề phòng Cộng Sản ngóc đầu dậy.

2.    Đảng Dân Tộc Việt Nam có trách nhiệm tích cực yểm trợ hậu thuẫn cho Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Tự Do trong các công tác bảo đảm an ninh Quốc Phòng, An Ninh Nội Chính, Pháp Luật Nghiêm Minh, kết hợp giữa Nhân Trị và Pháp trị nhằm chuyển đổi một guồng máy độc tài đảng trị, quan liêu bàn giấy, công cụ của một Đảng thành một guồng máy hữu hiệu, phục vụ công ích, một chính phủ do dân vì dân thực sự.

3.    Bãi bỏ tức khắc và vĩnh viễn các cấp ủy đảng Cộng Sản từ trung ương đến địa phương.

4.    Bãi bỏ tức khắc các nhật báo, tuần báo, tạp chí cùng các cơ quan thông tấn truyền thông từng là công cụ cho chế độ cộng sản.

5.    Trả tự do, phục hồi quyền công dân tức khắc cho các nhà tranh đấu cho nhân quyền, Tự Do Tôn Giáo, đòi hỏi dân chủ hóa Việt Nam và nói chung các chính trị phạm dưới chế độ cộng sản.

C – THIẾT DỰNG CÁC CƠ CHẾ CHUYỂN TIẾP

1.    Triệu tập Hội Nghị Diên Hồng Hải Ngoại Quốc Nội công bố dự thảo Hiến Pháp.

2.    Bầu cử quốc hội Lập Hiến: sau khi Hiến Pháp mới đã biểu quyết xong sẽ bàn hoặc ấn định thời gian bầu cử Quốc Hội Lập Pháp (Quốc Hội Lập Hiến có thể biểu quyết tự biến thành Quốc Hội Lập Pháp nếu hoàn cảnh cho phép).

3.     Hình thành Tân Chính Phủ theo Hiến Pháp mới hậu kỳ Cộng Sản.

GIAI ĐOẠN TÁI THIẾT ĐẤT NƯỚC

VỀ DÂN CHỦ PHÁP CHẾ

1.    Sau khi đã có Hiến Pháp mới, Quốc Hội tiếp tục ban hành các bộ luật căn bản về hình sự, dân sự tố tụng, luật thương mại, luật tài chánh, luật giao thông, luật điền địa, luật nhà phố, luật bảo vệ rừng và lâm sản, luật bảo vệ sông biển và thủy sản, luật về thiếu nhi phạm pháp, luật bảo vệ thuần phong mỹ tục, luật bảo vệ di sản văn hóa và di tích lịch sử, luật báo chí, luật xuất bản và ấn loát phẩm… Có hàng trăm bộ luật mới cần phải được soạn thảo theo tiêu chuẩn của nền pháp chế dân chủ và nhân bản. Một số bộ luật đã có có thể hiệu đính, san định lại cho phù hợp với Hiến Pháp và nền Pháp Chế Dân Chủ Nhân Bản.

2.    Quốc gia chủ trương một nền Dân Chủ Pháp trị: Tam quyền phân lập rõ ràng: Lập Pháp – Hành Pháp – Tư Pháp.

3.    Nền pháp luật mới là nền pháp luật thượng tôn giá trị cao trọng của con người và nhân phẩm trong quốc gia và xã hội. Tất cả con người nào dù ở địa vị nào và kể cả tôn giáo cũng phải đặt dưới luật pháp. Hiến Pháp là biểu tượng của công lý và là đạo luật tối thượng của quốc gia.

4.    Quốc Hội ban hành luật tổ chức hệ thống tòa án trên toàn quốc từ Trung Ương đến cấp Huyện. Ngoài ra còn có các tòa án chuyên biệt như Tòa Án Lao Động, Tòa Án Thuế Vụ, Tòa Án Nhà Phố, Tòa Án Thương Mại, Tòa Án Di Trú, Tòa Án Phong Tục (đồng bào sắc tộc).

 NỀN GIÁO DỤC QUỐC GIA 

1.    Giáo dục quốc dân và xây dựng lại con người Việt Nam lương hảo, tiến bộ là nghĩa vụ thiêng liêng và là trách nhiệm trọng yếu của quốc gia. Bất cứ một người Việt Nam nào, Kinh và Thượng, khi đến tuổi cắp sách đến trường đều được hưởng một nền giáo dục đồng đều, không một cá nhân nào, không một tập thể nào hay đẳng cấp nào được hưởng đặc quyền giáo dục hay bị tước đoạt quyền được đi học.

2.    Chỉ có một nền giáo dục duy nhất và một chương trình duy nhất của quốc gia do Bộ Giáo Dục ban hành, thống nhất trên toàn quốc từ bậc Tiểu học, Trung học cấp I, Cấp II và giáo dục đại chúng.

3.    Quốc gia cưỡng bách giáo dục, từ Tiểu học cho đến Trung học hoàn toàn miễn phí. Phụ huynh vi phạm, không cho con em đến trường sẽ bị luật nghiêm trị. Quốc Hội ban hành một đạo luật về cưỡng bách giáo dục.

4.    Chương trình và học chế bậc tiểu học, trung học cấp I và cấp II do Bộ Giáo Dục và Hội đồng Giáo dục cùng soạn thảo. Quốc sử, công dân giáo dục, đức dục và thể dục là các môn học bắt buộc. Thiết lập môn học Bảo Vệ Hôn Nhân & Gia Đình và Dưỡng Nhi để chấn hưng nòi giống. Tái lập các môn học Nữ Công Gia Chánh dành cho nữ sinh.

5.    Thành lập vụ Thanh Niên và sinh hoạt học đường dành riêng cho các ngành trung tiểu học (kể cả trung học kỹ thuật chuyên nghiệp).

6.    Duy trì, phát triển và hiện đại hóa các trường cao đẳng và đại học các ngành, các viện và các trung tâm nghiên cứu. Thành lập Hội Đồng Đại Học toàn quốc. Qui chế Đại Học do Quốc Hội ban hành bởi một đạo luật. Bãi bỏ học vị Phó Tiến Sĩ và Thạc Sĩ, thiết lập các học vị cao học và tiến sĩ quốc gia, học vị cao nhất của bậc Đại Học. Thiết lập học vị tiến sĩ đại học dành cho những người hiếu học nhưng do hoàn cảnh không thể thường trú trong thời gian làm luận án Tiến sĩ.

7.    Các tôn giáo và tư nhân được quyền mở các trường Cao Đẳng và Đại Học tư với điều kiện phải được Bộ Giáo Dục và Hội Đồng Đại Học chấp thuận theo qui chế chung của đại học. Viện Trưởng Đại Học tư phải do Thủ Tướng Chính Phủ chuẩn chấp theo đề nghị của Bộ Giáo Dục và được ban hành bằng một sắc lệnh. Chứng chỉ và cấp bằng các Đại Học tư được công nhận tương đương với đại học công với điều kiện phẩm chất và khảo thí y như đại học công.

8.    Hệ thống Cao Đẳng và Đại Học, các Viện và Trung Tâm nghiên cứu liên thuộc tiêu biểu cho trí thức và kiến thức cấp cao của quốc gia nên phải được hiện đại hóa, theo tiêu chuẩn quốc tế về khoa học, kỹ thuật và các ngành nghề chuyên môn phải ngang tầm với các quốc gia văn minh tiền tiến.

 VĂN HÓA VÀ HỌC THUẬT 

1.    Bảo trọng và phát huy nền văn hóa và truyền thống dân tộc, thiết lập các Trung Tâm Văn Hóa Hùng Vương, tái thiết các văn miếu, đình làng, đền thờ Quốc Tổ, xây dựng các đền thờ Anh Hùng Dân Tộc, lấy đó làm cứu cánh và bản vị cho mọi công trình và các hoạt động thuộc phạm vi văn hóa tinh thần, văn hóa nghệ thuật.

2.    Chuẩn bị một cách chu đáo để tiến hành thành lập Viện Văn Hiến, Hàn Lâm Viện Quốc Gia và Hàn Lâm Viện Khoa Học Kỹ Thuật.

3.    Thành lập Hý Viện Quốc Gia, bảo trọng và phát triển các bộ môn nghệ thuật truyền thống, các bộ môn âm nhạc, ca múa và trình diễn quốc tế giao lưu.

4.    Coi trọng và phát huy nền văn học nghệ thuật dân gian, nhất là văn nghệ trình diễn và dân ca.

5.    Tái tổ chức và khoa học, qui mô, điện toán hóa Thư Viện Quốc Gia Trung Ương và địa phương. Thành lập và hệ thống hóa ngành Thư Viện và Văn Khố Trung Ương & địa phương. Quốc Hội ban hành qui chế Thư Viện và Văn Khố Quốc Gia bằng một đạo luật.

6.    Duy trì Trung Tâm Khoa Học Nhân Văn và các Viện thuộc Trung Tâm. Cải danh Trung Tâm và đặt dưới quyền một Viện Trưởng Liên Viện hàng Thứ Trưởng Văn Hóa. Văn Hóa Dân Gian, Dân Tộc Học, Khảo Cổ Học, Xã Hội học, Ngôn ngữ học, Âm nhạc, Nhân chủng học, Nghiên cứu Đông Nam Á, Viện Hán Nôm phải duy trì và nâng cấp.

7.    Duy trì và nâng cấp các tạp chí Văn Hóa Nghệ Thuật, Khảo Cổ Học, Ngôn Ngữ, Âm Nhạc, Văn Hóa Dân Gian. Văn Học… Cải danh Tạp Chí Nghiên Cứu Lịch Sử

8.    Văn Hóa, Văn Học, Nghệ Thuật và các ngành khoa học nhân văn từ sử học đến triết học, từ xã hội học đến dân tộc học phải tuyệt đối phi chính trị, hoàn toàn độc lập, không liên hệ trực tiếp hay gián tiếp đối với các tổ chức chính trị, đảng phái.

9.    Thành lập Hội Đồng Tu Thư và Hiệu Đính. Xét lại các bộ sách, nhất là khoa sử cận đại đã xuất bản, hiệu đính lại những sai lầm và bóp méo theo nhu cầu tuyên tuyền và ý thức hệ Cộng Sản.

10. Thành lập Ủy Ban Ngôn Ngữ, phát động chiến dịch trong sáng hóa văn tự và ngôn ngữ Việt Nam.

11. Thành lập giải thưởng Quốc Gia dành cho các ngành khoa học nhân văn, văn nghệ trình diễn, văn học sáng tạo và nghiên cứu từ sử học đến khảo cổ học, nhân chủng học v.v…

  VỀ QUÂN ĐỘI,

NỘI AN VÀ TÌNH BÁO 

Quân đội, nội an, tình báo là sự sống còn của quốc gia và xã hội.

1.    Duy trì canh tân, hiện đại hóa Quân Đội. Quân Đội phi chính trị. Quân Đội chỉ có nghĩa vụ duy nhất là bảo vệ biên cương tổ quốc, phục vụ đất nước, dân tộc và đồng bào. Thành lập cơ quan báo chí và truyền thông mới của Quân Đội trên căn bản phi chính trị đảng phái. Quân Đội độc lập giữa các tổ chức chính trị, đảng phái.

2.    Kiến tạo các trại gia binh, các cư xá dành cho tướng lãnh, sĩ quan… Thành lập các trường mẫu giáo, tiểu học, trung học Cấp I, Cấp II trong Quân Đội dành cho các con em quân nhân. Con của quân nhân từ tướng lãnh, sĩ quan đến binh sĩ được đối xử đồng đều như nhau.

3.    Thành lập Quân Tiếp Vụ cung cấp hàng hóa tiếp liệu mọi loại cho quân nhân và gia đình được miễn thuế.

4.    Giải ngũ một số lượng quân nhân chỉ giữ lại một tỷ lệ cần thiết đủ để bảo vệ đất nước. Hiện đại hóa quân đội.

5.    Hiện đại hóa và nâng cấp các lực lượng nội an, công an, cảnh sát và tình báo. Cũng như Quân Đội, các lực lượng nội an, biên phòng, công an, cảnh sát tình báo tuyệt đối phi đảng phái, hoàn toàn chuyên biệt.

6.    Thành lập Học Viện Cảnh Sát Tư Pháp. Cải danh Đại Học Công An thành Đại Học An Ninh Quốc Gia bao gồm cả công an và tình báo.

 KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN 

1.    Đảng Dân Tộc Việt Nam thực hiện một nền kinh tế tự do trên căn bản quốc dân và nhân bản. Đó cũng là nền kinh tế thị trường lấy tư doanh làm nền tảng, lấy lợi nhuận làm yếu tố kích thích, lấy tự do sáng tạo làm động lực phát triển.

2.    Giải tư mọi công ty, xí nghiệp quốc doanh và tư hữu hóa ruộng đất.

3.    Soạn thảo Bộ Luật Đầu Tư mới, dựa trên nền tảng tư doanh, luật pháp rõ ràng nghiêm minh của nền dân chủ pháp trị cải cách hệ thống ngân hàng, xây dựng hạ tầng cơ sở để hấp dẫn giới đầu tư, tư bản nước ngoài và tư bản người Việt hải ngoại.

4.    Thực hiện các sách lược canh tân và hiện đại hóa: Nông, Lâm, Ngư Nghiệp.

5.    Thực hiện sách lược nghiệp vụ hóa quốc dân (Người dân nào cũng có nghề chuyên môn thích hợp thi đua phát triển tay nghề).

6.    Dân số Việt Nam trên 80 triệu nên cần đẩy mạnh thị trường nội địa.

7.    Thực hiện chính sách văn minh hóa nông thôn (giảm thiểu hố ngăn cách nông thôn và thành thị).

8.    Thực hiện một nền kinh tế công nghiệp và dịch vụ.

9.    Thực hiện kế hoạch phát triển kỹ thuật điện tử.

10. Chuẩn bị sẵn sàng mọi điều kiện để Việt Nam sớm gia nhập WTO.

11. Thiết lập các khu Kinh Tế Tự Do.

12. Biến Việt Nam thành đầu cầu kinh tế của Thế Giới và Đông Nam Á.

RUỘNG VƯỜN – NHÀ PHỐ – NÔNG

THÔN – THÀNH THỊ VÀ MÔI SINH 

1.    Bảo vệ môi sinh là chủ đạo của dân tộc sinh tồn và là truyền thống vạn vật nhất thể của dân tộc Việt Nam. Từ sinh linh, rừng cây, nguồn suối, đồng ruộng, sông ngòi, biển cả, các loài thú, chim muông, thủy sản và hải sản phải được triệt để bảo trọng giữ gìn và tài bồi trong một môi trường trong lành, giảm thiểu ô nhiễm đến mức tối thiểu.

2.    Tiến hành cuộc phân chia ruộng đất một cách công bằng, hợp lý. Trả quyền sở hữu ruộng vườn cho nông dân, cho các tôn giáo và đồng bào Sắc Tộc trên căn bản công bình và luật định.

3.    Lập Tòa án Điền Địa để phân xử các cuộc tranh chấp và tố tụng về ruộng đất ở nông thôn.

4.    Quốc Hội ban hành một Đạo Luật về nhà phố ở thành thị qui định quyền sở hữu, thuê mướn và kết ước.

5.    Ban hành qui chế mới về quản trị tài sản quốc gia, không đi ngược với phúc lợi của nông dân, ngư dân, công nhân và đồng bào sắc tộc.

6.    Thành lập Nghiệp Đoàn các ngành nghề. 

NHÂN SINH VÀ XÃ HỘI

1.    Đảng Dân Tộc Việt Nam chủ trương triệt để nghiêm cấm đưa thiếu nữ vị thành niên vào đường mãi dâm hay bán ra ngoại quốc làm vợ bé, nàng hầu và nô lệ tình dục.

2.    Tuyệt đối cấm xuất khẩu và sử dụng thiếu nhi nam nữ vào lao động hay làm đầy tớ gia nô.

3.    Bảo đảm cho người dân hưu được tiếp tục lãnh lương hưu như dưới chế độ cũ. Tùy hoàn cảnh cho phép, Chính Phủ sẽ gia tăng và nâng cấp chế độ hưu dưỡng với các khoản phúc lợi xứng đáng.

4.    Thành lập Quỹ An Sinh Xã Hội, Bảo hiểm y tế, nhân mạng và tai nạn nghề nghiệp.

5.    Công chức, quân nhân, thương phế binh, cô nhi quả phụ được tiếp tục lãnh lương hưu và các khoản trợ cấp khác hơn chế độ cũ. Tùy hoàn cảnh, Chính Phủ sẽ gia tăng và nâng cấp khoản lương hưu và các phụ cấp khác. Thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa và Quân Đội, Công An Nhân Dân – là nạn nhân của các cuộc chiến ủy nhiệm trước đây được Chính Phủ đặc biệt ưu đãi, được hưởng qui chế hưu và các khoản phúc lợi cần thiết.

6.    Thiết lập các nhà Dưỡng lão để săn sóc người cao niên cô quả, tàn phế hay bệnh tật.

7.    Khuyến cáo tư nhân mở các nhà thương tổng khoa, hay chuyên khoa.

8.    Thiết lập một chương trình qui mô bảo vệ sản phụ, thai nhi và ấu nhi. Đó cũng là đại kế hoạch bảo vệ và thăng tiến giống nòi về tinh thần và vật chất.

9.    Cấp thời thực hiện các chương trình tương trợ đặc biệt cho đồng bào nghèo đang sinh sống ở các nước Miên, Lào và Thái Lan.

10. Tôn trọng và phát triển xã hội dân sự.

Xã hội dân sự gồm các tổ chức thiện nguyện, hiệp hội, câu lạc bộ, các tổ chức từ thiện xã hội của các tôn giáo, hợp tác xã, công ty xí nghiệp… để theo đuổi các mục đích tạo phúc lợi chung cho xã hội, không nhằm tranh giành quyền lực chính trị. Quan niệm xã hội dân sự đang được phát triển mạnh ở các quốc gia văn minh, giúp cho xã hội không ngừng tiến hóa trong hòa bình và trật tự. 

THANH NIÊN VÀ PHỤ NỮ

Huấn đạo thanh niên là một chính sách lớn của Đảng Dân Tộc Việt Nam.

1.    Đảng Dân Tộc Việt Nam đề ra chương trình và kế hoạch thực tiễn giảm thiểu đến mức tối thiểu tình trạng khiếm dụng và thất nghiệp trong giới thanh niên.

2.    Trẻ trung hóa và sinh động hóa chính quyền bằng cách đưa thanh niên vào các hoạt động quốc gia ở mọi ngành sinh hoạt. Huấn luyện và hướng dẫn thanh niên để đưa vào vai trò điều hành và lãnh đạo guồng máy quốc gia và xã hội.

3.    Tái võ trang tinh thần cho thanh niên trên căn bản lễ nghĩa và tình đạo của truyền thống dân tộc. Đó cũng là chủ yếu của chính sách Huấn Đạo.

4.    Đưa thanh niên vào con đường tự giác, tự quyết, tự lập, tự trọng đi theo hướng đi cộng đồng phát triển, tự do và thăng tiến trong tương quan trách nhiệm.

5.    Phụ nữ là nửa phần thân mệnh của Dân tộc. Nữ quyền phải được thượng tôn trong công bình và công lý.

6.    Nghiêm cấm mọi nhục hình dưới mọi hình thức đối với phụ nữ. Nghiêm cấm mọi hành động hạ nhục phụ nữ hay khai thác phụ nữ một cách bất công, phi pháp hoặc quá độ dưới mọi hình thức.

7.    Nam nữ phân quyền và tương kính đã được xác lập từ ngàn xưa trong văn hóa và truyền thống dân tộc. Nghiêm cấm mọi hình thức bán phụ nữ ra nước ngoài làm nô lệ lao động và tình dục.

8.    Thành lập riêng một ngành Võ học, thanh niên nam nữ được giáo dưỡng theo tinh thần thượng võ, truyền thống của Võ học Dân Tộc. 

ĐỐI NGOẠI

1.    Tích cực tham gia vào các hoạt động quốc tế, tự đặt mình trong các định chế quốc tế và LHQ. Liên kết với chính đảng và chính quyền các quốc gia bạn.

2.    Tự đặt mình trong bối cảnh toàn cầu lấy tinh thần dân tộc tự quyết và quốc tế giao lưu, khai phóng và tiến bộ chung của loài người làm căn bản.

3.    Thiết lập quan hệ ngoại giao tốt đẹp và cởi mở với các quốc gia trên thế giới.

4.    Tích cực phát triển và bảo trọng các quan hệ thân thiết với các nước Đông Nam Á, nhất là các nước Kampuchia, Lào và Trung Quốc mà từ ngàn xưa đã là anh em thúc bá huynh đệ, liền sông, liền núi. Do vậy, Đảng Dân Tộc Việt Nam chủ trương quan hệ với các nước Kampuchia, Lào và Trung Quốc như là ba nước tối huệ quốc với những quan hệ đặc biệt về ngoại giao, giáo dục, văn hóa, nghệ thuật, xã hội, du lịch và di trú.

5.    Quyết tâm bảo toàn lãnh thổ và vùng trời, vùng biển. Bằng sách lược hòa bình và hữu nghị để thương thảo với Trung Quốc trong tín nghĩa, đặt trọng tâm vào mục tiêu phục hồi lại các phần lãnh thổ và vùng biển đã bị Cộng sản Việt Nam chuyển nhượng cho Trung Quốc trên tinh thần công bằng và danh dự chung của hai quốc gia.

GIAI ĐOẠN TÁI THIẾT ĐẤT NƯỚC

 VỀ DÂN CHỦ PHÁP CHẾ

1.    Sau khi đã có Hiến Pháp mới, Quốc Hội tiếp tục ban hành các bộ luật căn bản về hình sự, dân sự tố tụng, luật thương mại, luật tài chánh, luật giao thông, luật điền địa, luật nhà phố, luật bảo vệ rừng và lâm sản, luật bảo vệ sông biển và thủy sản, luật về thiếu nhi phạm pháp, luật bảo vệ thuần phong mỹ tục, luật bảo vệ di sản văn hóa và di tích lịch sử, luật báo chí, luật xuất bản và ấn loát phẩm… Có hàng trăm bộ luật mới cần phải được soạn thảo theo tiêu chuẩn của nền pháp chế dân chủ và nhân bản. Một số bộ luật đã có có thể hiệu đính, san định lại cho phù hợp với Hiến Pháp và nền Pháp Chế Dân Chủ Nhân Bản.

2.    Quốc gia chủ trương một nền Dân Chủ Pháp trị: Tam quyền phân lập rõ ràng: Lập Pháp – Hành Pháp – Tư Pháp.

3.    Nền pháp luật mới là nền pháp luật thượng tôn giá trị cao trọng của con người và nhân phẩm trong quốc gia và xã hội. Tất cả con người nào dù ở địa vị nào và kể cả tôn giáo cũng phải đặt dưới luật pháp. Hiến Pháp là biểu tượng của công lý và là đạo luật tối thượng của quốc gia.

4.    Quốc Hội ban hành luật tổ chức hệ thống tòa án trên toàn quốc từ Trung Ương đến cấp Huyện. Ngoài ra còn có các tòa án chuyên biệt như Tòa Án Lao Động, Tòa Án Thuế Vụ, Tòa Án Nhà Phố, Tòa Án Thương Mại, Tòa Án Di Trú, Tòa Án Phong Tục (đồng bào sắc tộc).

 NỀN GIÁO DỤC QUỐC GIA 

1.    Giáo dục quốc dân và xây dựng lại con người Việt Nam lương hảo, tiến bộ là nghĩa vụ thiêng liêng và là trách nhiệm trọng yếu của quốc gia. Bất cứ một người Việt Nam nào, Kinh và Thượng, khi đến tuổi cắp sách đến trường đều được hưởng một nền giáo dục đồng đều, không một cá nhân nào, không một tập thể nào hay đẳng cấp nào được hưởng đặc quyền giáo dục hay bị tước đoạt quyền được đi học.

2.    Chỉ có một nền giáo dục duy nhất và một chương trình duy nhất của quốc gia do Bộ Giáo Dục ban hành, thống nhất trên toàn quốc từ bậc Tiểu học, Trung học cấp I, Cấp II và giáo dục đại chúng.

3.    Quốc gia cưỡng bách giáo dục, từ Tiểu học cho đến Trung học hoàn toàn miễn phí. Phụ huynh vi phạm, không cho con em đến trường sẽ bị luật nghiêm trị. Quốc Hội ban hành một đạo luật về cưỡng bách giáo dục.

4.    Chương trình và học chế bậc tiểu học, trung học cấp I và cấp II do Bộ Giáo Dục và Hội đồng Giáo dục cùng soạn thảo. Quốc sử, công dân giáo dục, đức dục và thể dục là các môn học bắt buộc. Thiết lập môn học Bảo Vệ Hôn Nhân & Gia Đình và Dưỡng Nhi để chấn hưng nòi giống. Tái lập các môn học Nữ Công Gia Chánh dành cho nữ sinh.

5.    Thành lập vụ Thanh Niên và sinh hoạt học đường dành riêng cho các ngành trung tiểu học (kể cả trung học kỹ thuật chuyên nghiệp).

6.    Duy trì, phát triển và hiện đại hóa các trường cao đẳng và đại học các ngành, các viện và các trung tâm nghiên cứu. Thành lập Hội Đồng Đại Học toàn quốc. Qui chế Đại Học do Quốc Hội ban hành bởi một đạo luật. Bãi bỏ học vị Phó Tiến Sĩ và Thạc Sĩ, thiết lập các học vị cao học và tiến sĩ quốc gia, học vị cao nhất của bậc Đại Học. Thiết lập học vị tiến sĩ đại học dành cho những người hiếu học nhưng do hoàn cảnh không thể thường trú trong thời gian làm luận án Tiến sĩ.

7.    Các tôn giáo và tư nhân được quyền mở các trường Cao Đẳng và Đại Học tư với điều kiện phải được Bộ Giáo Dục và Hội Đồng Đại Học chấp thuận theo qui chế chung của đại học. Viện Trưởng Đại Học tư phải do Thủ Tướng Chính Phủ chuẩn chấp theo đề nghị của Bộ Giáo Dục và được ban hành bằng một sắc lệnh. Chứng chỉ và cấp bằng các Đại Học tư được công nhận tương đương với đại học công với điều kiện phẩm chất và khảo thí y như đại học công.

8.    Hệ thống Cao Đẳng và Đại Học, các Viện và Trung Tâm nghiên cứu liên thuộc tiêu biểu cho trí thức và kiến thức cấp cao của quốc gia nên phải được hiện đại hóa, theo tiêu chuẩn quốc tế về khoa học, kỹ thuật và các ngành nghề chuyên môn phải ngang tầm với các quốc gia văn minh tiền tiến.

 VĂN HÓA VÀ HỌC THUẬT

 1.    Bảo trọng và phát huy nền văn hóa và truyền thống dân tộc, thiết lập các Trung Tâm Văn Hóa Hùng Vương, tái thiết các văn miếu, đình làng, đền thờ Quốc Tổ, xây dựng các đền thờ Anh Hùng Dân Tộc, lấy đó làm cứu cánh và bản vị cho mọi công trình và các hoạt động thuộc phạm vi văn hóa tinh thần, văn hóa nghệ thuật.

2.    Chuẩn bị một cách chu đáo để tiến hành thành lập Viện Văn Hiến, Hàn Lâm Viện Quốc Gia và Hàn Lâm Viện Khoa Học Kỹ Thuật.

3.    Thành lập Hý Viện Quốc Gia, bảo trọng và phát triển các bộ môn nghệ thuật truyền thống, các bộ môn âm nhạc, ca múa và trình diễn quốc tế giao lưu.

4.    Coi trọng và phát huy nền văn học nghệ thuật dân gian, nhất là văn nghệ trình diễn và dân ca.

5.    Tái tổ chức và khoa học, qui mô, điện toán hóa Thư Viện Quốc Gia Trung Ương và địa phương. Thành lập và hệ thống hóa ngành Thư Viện và Văn Khố Trung Ương & địa phương. Quốc Hội ban hành qui chế Thư Viện và Văn Khố Quốc Gia bằng một đạo luật.

6.    Duy trì Trung Tâm Khoa Học Nhân Văn và các Viện thuộc Trung Tâm. Cải danh Trung Tâm và đặt dưới quyền một Viện Trưởng Liên Viện hàng Thứ Trưởng Văn Hóa. Văn Hóa Dân Gian, Dân Tộc Học, Khảo Cổ Học, Xã Hội học, Ngôn ngữ học, Âm nhạc, Nhân chủng học, Nghiên cứu Đông Nam Á, Viện Hán Nôm phải duy trì và nâng cấp.

7.    Duy trì và nâng cấp các tạp chí Văn Hóa Nghệ Thuật, Khảo Cổ Học, Ngôn Ngữ, Âm Nhạc, Văn Hóa Dân Gian. Văn Học… Cải danh Tạp Chí Nghiên Cứu Lịch Sử

8.    Văn Hóa, Văn Học, Nghệ Thuật và các ngành khoa học nhân văn từ sử học đến triết học, từ xã hội học đến dân tộc học phải tuyệt đối phi chính trị, hoàn toàn độc lập, không liên hệ trực tiếp hay gián tiếp đối với các tổ chức chính trị, đảng phái.

9.    Thành lập Hội Đồng Tu Thư và Hiệu Đính. Xét lại các bộ sách, nhất là khoa sử cận đại đã xuất bản, hiệu đính lại những sai lầm và bóp méo theo nhu cầu tuyên tuyền và ý thức hệ Cộng Sản.

10. Thành lập Ủy Ban Ngôn Ngữ, phát động chiến dịch trong sáng hóa văn tự và ngôn ngữ Việt Nam.

11. Thành lập giải thưởng Quốc Gia dành cho các ngành khoa học nhân văn, văn nghệ trình diễn, văn học sáng tạo và nghiên cứu từ sử học đến khảo cổ học, nhân chủng học v.v…

  VỀ QUÂN ĐỘI, NỘI AN VÀ

 

TÌNH BÁO

 Quân đội, nội an, tình báo là sự sống còn của quốc gia và xã hội.

1.    Duy trì canh tân, hiện đại hóa Quân Đội. Quân Đội phi chính trị. Quân Đội chỉ có nghĩa vụ duy nhất là bảo vệ biên cương tổ quốc, phục vụ đất nước, dân tộc và đồng bào. Thành lập cơ quan báo chí và truyền thông mới của Quân Đội trên căn bản phi chính trị đảng phái. Quân Đội độc lập giữa các tổ chức chính trị, đảng phái.

2.    Kiến tạo các trại gia binh, các cư xá dành cho tướng lãnh, sĩ quan… Thành lập các trường mẫu giáo, tiểu học, trung học Cấp I, Cấp II trong Quân Đội dành cho các con em quân nhân. Con của quân nhân từ tướng lãnh, sĩ quan đến binh sĩ được đối xử đồng đều như nhau.

3.    Thành lập Quân Tiếp Vụ cung cấp hàng hóa tiếp liệu mọi loại cho quân nhân và gia đình được miễn thuế.

4.    Giải ngũ một số lượng quân nhân chỉ giữ lại một tỷ lệ cần thiết đủ để bảo vệ đất nước. Hiện đại hóa quân đội.

5.    Hiện đại hóa và nâng cấp các lực lượng nội an, công an, cảnh sát và tình báo. Cũng như Quân Đội, các lực lượng nội an, biên phòng, công an, cảnh sát tình báo tuyệt đối phi đảng phái, hoàn toàn chuyên biệt.

6.    Thành lập Học Viện Cảnh Sát Tư Pháp. Cải danh Đại Học Công An thành Đại Học An Ninh Quốc Gia bao gồm cả công an và tình báo.

 KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN

 1.    Đảng Dân Tộc Việt Nam thực hiện một nền kinh tế tự do trên căn bản quốc dân và nhân bản. Đó cũng là nền kinh tế thị trường lấy tư doanh làm nền tảng, lấy lợi nhuận làm yếu tố kích thích, lấy tự do sáng tạo làm động lực phát triển.

2.    Giải tư mọi công ty, xí nghiệp quốc doanh và tư hữu hóa ruộng đất.

3.    Soạn thảo Bộ Luật Đầu Tư mới, dựa trên nền tảng tư doanh, luật pháp rõ ràng nghiêm minh của nền dân chủ pháp trị cải cách hệ thống ngân hàng, xây dựng hạ tầng cơ sở để hấp dẫn giới đầu tư, tư bản nước ngoài và tư bản người Việt hải ngoại.

4.    Thực hiện các sách lược canh tân và hiện đại hóa: Nông, Lâm, Ngư Nghiệp.

5.    Thực hiện sách lược nghiệp vụ hóa quốc dân (Người dân nào cũng có nghề chuyên môn thích hợp thi đua phát triển tay nghề).

6.    Dân số Việt Nam trên 80 triệu nên cần đẩy mạnh thị trường nội địa.

7.    Thực hiện chính sách văn minh hóa nông thôn (giảm thiểu hố ngăn cách nông thôn và thành thị).

8.    Thực hiện một nền kinh tế công nghiệp và dịch vụ.

9.    Thực hiện kế hoạch phát triển kỹ thuật điện tử.

10. Chuẩn bị sẵn sàng mọi điều kiện để Việt Nam sớm gia nhập WTO.

11. Thiết lập các khu Kinh Tế Tự Do.

12. Biến Việt Nam thành đầu cầu kinh tế của Thế Giới và Đông Nam Á.

RUỘNG VƯỜN –

NHÀ PHỐ –

NÔNG THÔN –

THÀNH THỊ VÀ MÔI SINH

 1.    Bảo vệ môi sinh là chủ đạo của dân tộc sinh tồn và là truyền thống vạn vật nhất thể của dân tộc Việt Nam. Từ sinh linh, rừng cây, nguồn suối, đồng ruộng, sông ngòi, biển cả, các loài thú, chim muông, thủy sản và hải sản phải được triệt để bảo trọng giữ gìn và tài bồi trong một môi trường trong lành, giảm thiểu ô nhiễm đến mức tối thiểu.

2.    Tiến hành cuộc phân chia ruộng đất một cách công bằng, hợp lý. Trả quyền sở hữu ruộng vườn cho nông dân, cho các tôn giáo và đồng bào Sắc Tộc trên căn bản công bình và luật định.

3.    Lập Tòa án Điền Địa để phân xử các cuộc tranh chấp và tố tụng về ruộng đất ở nông thôn.

4.    Quốc Hội ban hành một Đạo Luật về nhà phố ở thành thị qui định quyền sở hữu, thuê mướn và kết ước.

5.    Ban hành qui chế mới về quản trị tài sản quốc gia, không đi ngược với phúc lợi của nông dân, ngư dân, công nhân và đồng bào sắc tộc.

6.    Thành lập Nghiệp Đoàn các ngành nghề. 

NHÂN SINH VÀ XÃ HỘI

1.    Đảng Dân Tộc Việt Nam chủ trương triệt để nghiêm cấm đưa thiếu nữ vị thành niên vào đường mãi dâm hay bán ra ngoại quốc làm vợ bé, nàng hầu và nô lệ tình dục.

2.    Tuyệt đối cấm xuất khẩu và sử dụng thiếu nhi nam nữ vào lao động hay làm đầy tớ gia nô.

3.    Bảo đảm cho người dân hưu được tiếp tục lãnh lương hưu như dưới chế độ cũ. Tùy hoàn cảnh cho phép, Chính Phủ sẽ gia tăng và nâng cấp chế độ hưu dưỡng với các khoản phúc lợi xứng đáng.

4.    Thành lập Quỹ An Sinh Xã Hội, Bảo hiểm y tế, nhân mạng và tai nạn nghề nghiệp.

5.    Công chức, quân nhân, thương phế binh, cô nhi quả phụ được tiếp tục lãnh lương hưu và các khoản trợ cấp khác hơn chế độ cũ. Tùy hoàn cảnh, Chính Phủ sẽ gia tăng và nâng cấp khoản lương hưu và các phụ cấp khác. Thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa và Quân Đội, Công An Nhân Dân – là nạn nhân của các cuộc chiến ủy nhiệm trước đây được Chính Phủ đặc biệt ưu đãi, được hưởng qui chế hưu và các khoản phúc lợi cần thiết.

6.    Thiết lập các nhà Dưỡng lão để săn sóc người cao niên cô quả, tàn phế hay bệnh tật.

7.    Khuyến cáo tư nhân mở các nhà thương tổng khoa, hay chuyên khoa.

8.    Thiết lập một chương trình qui mô bảo vệ sản phụ, thai nhi và ấu nhi. Đó cũng là đại kế hoạch bảo vệ và thăng tiến giống nòi về tinh thần và vật chất.

9.    Cấp thời thực hiện các chương trình tương trợ đặc biệt cho đồng bào nghèo đang sinh sống ở các nước Miên, Lào và Thái Lan.

10. Tôn trọng và phát triển xã hội dân sự.

Xã hội dân sự gồm các tổ chức thiện nguyện, hiệp hội, câu lạc bộ, các tổ chức từ thiện xã hội của các tôn giáo, hợp tác xã, công ty xí nghiệp… để theo đuổi các mục đích tạo phúc lợi chung cho xã hội, không nhằm tranh giành quyền lực chính trị. Quan niệm xã hội dân sự đang được phát triển mạnh ở các quốc gia văn minh, giúp cho xã hội không ngừng tiến hóa trong hòa bình và trật tự.

 THANH NIÊN VÀ PHỤ NỮ

 Huấn đạo thanh niên là một chính sách lớn của Đảng Dân Tộc Việt Nam.

1.    Đảng Dân Tộc Việt Nam đề ra chương trình và kế hoạch thực tiễn giảm thiểu đến mức tối thiểu tình trạng khiếm dụng và thất nghiệp trong giới thanh niên.

2.    Trẻ trung hóa và sinh động hóa chính quyền bằng cách đưa thanh niên vào các hoạt động quốc gia ở mọi ngành sinh hoạt. Huấn luyện và hướng dẫn thanh niên để đưa vào vai trò điều hành và lãnh đạo guồng máy quốc gia và xã hội.

3.    Tái võ trang tinh thần cho thanh niên trên căn bản lễ nghĩa và tình đạo của truyền thống dân tộc. Đó cũng là chủ yếu của chính sách Huấn Đạo.

4.    Đưa thanh niên vào con đường tự giác, tự quyết, tự lập, tự trọng đi theo hướng đi cộng đồng phát triển, tự do và thăng tiến trong tương quan trách nhiệm.

5.    Phụ nữ là nửa phần thân mệnh của Dân tộc. Nữ quyền phải được thượng tôn trong công bình và công lý.

6.    Nghiêm cấm mọi nhục hình dưới mọi hình thức đối với phụ nữ. Nghiêm cấm mọi hành động hạ nhục phụ nữ hay khai thác phụ nữ một cách bất công, phi pháp hoặc quá độ dưới mọi hình thức.

7.    Nam nữ phân quyền và tương kính đã được xác lập từ ngàn xưa trong văn hóa và truyền thống dân tộc. Nghiêm cấm mọi hình thức bán phụ nữ ra nước ngoài làm nô lệ lao động và tình dục.

8.    Thành lập riêng một ngành Võ học, thanh niên nam nữ được giáo dưỡng theo tinh thần thượng võ, truyền thống của Võ học Dân Tộc. 

ĐỐI NGOẠI

1.    Tích cực tham gia vào các hoạt động quốc tế, tự đặt mình trong các định chế quốc tế và LHQ. Liên kết với chính đảng và chính quyền các quốc gia bạn.

2.    Tự đặt mình trong bối cảnh toàn cầu lấy tinh thần dân tộc tự quyết và quốc tế giao lưu, khai phóng và tiến bộ chung của loài người làm căn bản.

3.    Thiết lập quan hệ ngoại giao tốt đẹp và cởi mở với các quốc gia trên thế giới.

4.    Tích cực phát triển và bảo trọng các quan hệ thân thiết với các nước Đông Nam Á, nhất là các nước Kampuchia, Lào và Trung Quốc mà từ ngàn xưa đã là anh em thúc bá huynh đệ, liền sông, liền núi. Do vậy, Đảng Dân Tộc Việt Nam chủ trương quan hệ với các nước Kampuchia, Lào và Trung Quốc như là ba nước tối huệ quốc với những quan hệ đặc biệt về ngoại giao, giáo dục, văn hóa, nghệ thuật, xã hội, du lịch và di trú.

5.    Quyết tâm bảo toàn lãnh thổ và vùng trời, vùng biển. Bằng sách lược hòa bình và hữu nghị để thương thảo với Trung Quốc trong tín nghĩa, đặt trọng tâm vào mục tiêu phục hồi lại các phần lãnh thổ và vùng biển đã bị Cộng sản Việt Nam chuyển nhượng cho Trung Quốc trên tinh thần công bằng và danh dự chung của hai quốc gia.

Được soi sáng bởi Hồn Thiêng Sông Núi và Quốc Sử

Nhằm đáp lại nguyện vọng tha thiết của toàn dân.

Đảng Dân Tộc Việt Nam quyết thực hiện cho bằng được bản cương lĩnh chính trị này.

Đảng Dân Tộc Việt Nam không tranh giành quyền lực với bất cứ Đảng phái nào, tập thể chính trị nào.

Đảng Dân Tộc Việt Nam rất thành tâm với ý chí sắt son quyết cùng đồng bào các giới, giải quyết một lần tận gốc những nan đề, những vấn nạn, những bế tắc và khó khăn của đất nước. Chỉ khi nào được toàn dân trao phó trách nhiệm xây dựng đất nước cũng như quyền lãnh đạo đất nước, Đảng Dân Tộc Việt Nam mới bắt tay vào công cuộc tái thiết đất nước.

Trước các Đấng Thiêng Liêng, anh linh Quốc Tổ, Tiên Hiền, Anh Hùng và Liệt Nữ dân tộc,

Trước Hương hồn các chiến sĩ và đồng bào đã bỏ mình vì sứ mệnh Cứu Nước Giữ Nước và Tự Do.

Chúng tôi, các đảng viên Đảng Dân Tộc Việt Nam long trọng xin nguyện cùng Tổ Quốc và đồng bào Việt Nam trong và ngoài nước quyết tâm bền lòng và vững chí, tiến lên để hoàn thành sứ mệnh thiêng liêng mà lịch sử và quốc dân trao phó.

Xin các Đấng Thiêng Liêng phù hộ cho dân tộc Việt Nam.

Việt Nam, ngày 15 tháng 8 năm 2003

ĐẢNG DÂN TỘC VIỆT NAM

Read Full Post »

 Tuyên Ngôn của Đảng Dân Tộc Việt Nam

 I – BỐI CẢNH LỊCH SỬ

Từ thuở vua Hùng dựng nước, Việt Nam đã là chiếc nôi văn minh tiền tiến của loài người. Cách đây hơn bốn ngàn năm, văn hóa Việt Nam đã là nền văn hóa nhân bản, khai phóng và khoa học, lan rộng khắp Đông Nam Á và Đại Dương Châu lên đến cả miền Trung Châu Trung Quốc.

Ngày nay, khảo cổ học và nhân chủng học quốc tế đã có đủ bằng chứng cho thế giới biết rằng, từ hơn 10 ngàn năm xưa, qua nền văn minh Hòa Bình và hơn 4 ngàn năm trước, qua nền văn minh Đông Sơn, Việt Nam đã là trung tâm phát xuất những tinh hoa đầu tiên của nhân loại. Qua truyền thuyết và cổ sử đã cho ta biết một cách rõ rệt, văn minh văn hóa Việt Nam có nguồn gốc riêng, độc đáo và phong phú, tiêu biểu trọn vẹn một sức sống mãnh liệt, tràn đầy tình người của một giống dân vốn phát xuất từ núi cao rừng thẳm, sông sâu và biển cả xanh ngát một mầu, mầu của tình tự Việt, bao dung và hòa hợp. Việt Nam cũng là quê hương của muôn loài kỳ hoa, dị thảo, chim lạ, thú quý, quê hương của con ngoan, mẹ hiền. Dân tình thì chất phác, tinh anh mà hồn hậu. Dân Việt là một vũ trụ tình, đâu đâu cũng chan hòa lời ca tiếng hát. Từ em bé thơ cho đến bậc lão niên lúc nào cũng vui tươi rộn rã tiếng cười. Cuộc sống là tình đạo, Tháng ngày là nhân nghĩa, chấp nhận nhau, thương yêu nhau dù có thể đã một lần oán thù nhau hay vẫn còn chất chứa dị biệt. Đâu đâu cũng là sống vui, tha thứ và ân cần. Tổ tiên ta chắt chiu từng bông lúa, cọng rau. Hạt cơm gọi là ngọc thực nhưng sẵn sàng chia sẻ cho nhau. Chị ngã em nâng. Tối lửa tắt đèn có nhau. Bầu ơi thương lấy bí cùng. Một con ngựa đau cả tầu không ăn cỏ. Cao hơn hết thảy là sự hy sinh cho nước, sẵn sàng chết vì nước để giữ nước và mở nước.

Người Việt Nam rất tự hào về dân tộc và đất nước gấm hoa của mình, một viên ngọc hiếm quí của nhân loại và phương Đông. Nước Việt được ca tụng là ngã tư quốc tế giao lưu, thể hiện tình người anh em “bốn biển một nhà”.

Yêu nước đã thành Đạo. Tự quyết là truyền thống. Dân tộc sinh tồn là một tiến trình thăng hoa, sống, còn, nối, tiến, hóa quyết vươn lên để tồn tại trong bất cứ tình huống nào, dù ở nghịch cảnh nào, ngay cả lúc đất nước đang bên lề vực thẳm.

Người Việt từ xưa vẫn là những người biết sống trong đạo lý, biết thờ Trời song vẫn coi con người là cứu cánh phục vụ, lấy dân tộc làm nền tảng cứu nước và dựng nước. Người Việt có truyền thống thờ kính Tổ Tiên, đặc biệt tôn thờ các bậc anh hùng, anh thư dân tộc và tôn trọng con người trong tình nhân ái.

Lịch sử Dân Tộc Việt không bao giờ là lịch sử đấu tranh giai cấp như luận điểm sai lầm của Các-Mác. Nguyên lý Âm Dương Hòa Hợp đã bác bỏ nguyên lý Vạn Vật Mâu Thuẫn, mang tính chất Lưỡng Nguyên Hủy Diệt. Biện Chứng Quân Bình Động của Gậy Thần Sách Ước lấy lượng cả Thánh Tâm để chuyển hóa đối nghịch khắc xung, qua mấy ngàn năm từ thời Văn Lang đã vận động lịch sử trong tiến trình: Sống, Còn, Nối, Tiến, Hóa với mục tiêu đấu tranh dựng nước và giữ nước của Dân Tộc Việt. Phải tự giác ngộ và tự giải thoát. Nước Văn Lang, Âu Lạc và Nam Việt từ những ngàn năm xưa đã là sự thực lịch sử hơn một lần sáng ngời khí phách Việt, nhân bản Việt, triết lý Việt. Một nước Việt tiền tiến với trống đồng, đặc sản của văn minh phương Nam, với nỏ liên thanh và mũi tên đồng, bắn một lần 10 mũi tên phóng đi nhanh như tia chớp. Kỹ thuật Việt Nam gần bốn thiên niên kỷ trước đây đã phát triển cao độ và tiền tiến trong nhân loại cùng thời. Người Việt Nam tự hào và hãnh diện về đất nước gần 5000 năm văn hiến chẳng qua cũng chỉ là do sự thực hiển nhiên. Bởi hiển nhiên là dân tộc Việt Nam rất đáng hãnh diện và tự hào về văn minh văn hóa và giòng giống thông minh đã đành mà còn rất đáng hãnh diện và tự hào về lịch sử Việt Nam đã có rất ít hôn quân bạo chúa, bá đạo độc tài. Phép vua thua lệ làng và nền dân chủ xã thôn phát triển rất sớm từ các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần và Hậu Lê cho đến triều Nguyễn. Di sản tinh thần của tổ tiên để lại là ta làm chủ ta, đất ta ta cầy, nhà ta ta ở. Có thực mới vực được đạo. Từ thuở vua Hùng dựng nước, tổ tiên ta và các triều đại đều lấy nền nhân chính làm chủ đạo quốc gia. Dân sinh phúc lợi là gốc của nước mạnh dân giàu. Dù lúc thịnh hay khi suy, tổ tiên ta và các triều đại đều lấy sự hòa đồng dân tộc làm lẽ sống còn. Bao nhiêu nước thuộc dòng Bách Việt đã bị tiêu diệt gọn hoặc bị đồng hóa chỉ riêng có giòng giống Việt ở phương Nam là còn tồn tại mà tồn tại một cách anh hùng. Dù hơn 1000 năm dưới ách đô hộ của Bắc thuộc, dân tộc Việt Nam vẫn giành lại được độc lập. Suốt một chặng dài lịch sử từ năm Ngô Quyền dựng lại nước cho đến cuối thế kỷ 19, nước Việt bị thực dân Pháp xâm lăng và thống trị trong gần 100 năm, quyền dân tộc tự quyết lúc nào cũng được các triều đại quyết tâm bảo trọng giữ gìn. Biên cương và lãnh thổ của Tổ Quốc vẫn là “bao nhiêu tấc đất tấc vàng bấy nhiêu”, dù phải đổ máu phơi thây cũng vẫn phải cố giữ vững từ một khe suối, một mỏm đất, một gang sông một thước biển cũng không thể lọt vào tay láng giềng ngoại bang.

Lịch sử Dân Tộc Việt vinh quang như thế, lẫm liệt hào hùng như thế, dù vận nước có lúc suy vi nước mất vào tay người nhưng lúc nào cũng là một tiến trình đấu tranh quật khởi để lấy lại nước, để dựng nước. Ấy thế mà từ năm 1945 đến nay, lịch sử Việt Nam đã bị đảng Cộng Sản Việt Nam theo tà thuyết ngoại lai làm cho hoen ố. Càng ngày dân ta càng lầm than, nước ta càng khốn cùng không lối thoát.

Chủ nghĩa Cộng Sản không những là một chủ nghĩa ngoại lai mà còn là chủ nghĩa phi Nhân tính, phi Dân tộc, phi Văn hóa và hoàn toàn phản khoa học. Nó đã gieo rắc thảm họa kinh hoàng không những cho Dân Tộc Việt Nam và cho cả loài người. Vì thế mà loài người khởi đầu từ Đông Âu, rồi chính từ Nga Xô – Cái nôi của Quốc tế Cộng Sản đã phải dứt khoát đứng lên loại bỏ Chủ Nghĩa và các Chế độ Cộng Sản. Chủ trương của Mác-Lê Nin cho rằng chỉ có thể giải quyết mâu thuẫn bằng bạo lực qua vô sản chuyên chính, độc tài, độc đảng, kinh tế quốc doanh, tập thể mới lập được một xã hội bình quân vô giai cấp đến nay đã chứng tỏ sai lầm từ căn bản, vô phương cứu chữa. “Sau biến cố Đông Âu dẫn đến sự tan rã của đế quốc Cộng Sản, cuộc chiến tranh lạnh trên thế giới giữa 2 siêu cường Hoa Kỳ và Liên sô cầm đầu 2 khối Tư Bản và Cộng Sản cũng chấm dứt theo. Hiện tình thế giới, không còn là sự tương tranh vật lộn một mất một còn giữa 2 siêu cường mang tính chất lưỡng cực nữa mà một trật tự thế giới mới đang hình thành! Đặc biệt là xu hướng TỰ DO DÂN CHỦ đã trở thành một xu thế tất yếu của thời đại đang dâng lên như nước thủy triều, không một chế độ hay thế lực độc tài toàn trị nào có thể tồn tại được. Trong biến cố Đông Âu và Nga Sô nhân vật Yeltsin đã nói một câu rất sâu sắc và bất hủ: “Chủ nghĩa và chế độ Cộng Sản chỉ có thể thay thế chứ không thể thay đổi được”. Bất hạnh thay! Và oái oăm thay! Bọn cầm đầu Bắc Bộ Phủ trong Chính Trị Bộ Đảng Cộng Sản, tuy biết chủ nghĩa Cộng Sản ngày nay đã hoàn toàn lạc hậu và phá sản, chúng vẫn ra sức duy trì để bảo vệ đặc quyền, đặc lợi, để tham nhũng và tệ hại hơn Cộng Sản Việt Nam còn quá nô lệ Trung Hoa, trong khi Trung Hoa chỉ dùng chủ nghĩa Cộng Sản như một phương tiện để thực hiện chủ nghĩa quốc gia, bành trướng bá quyền.

Hơn nữa, thế giới hôm nay, với hai cuộc cách mạng Vi Điện Tử và Tin Học đã khai triển lên mức cao độ và còn đang tiến hành phi tốc tạo ra các sản phẩm tinh vi, đầy dẫy, giá rẻ, đưa loài người cất cao trong thế giới văn minh, thu hẹp không gian với nền kinh tế toàn cầu, đem nền dân chủ đến loài người, tự do sáng tạo theo mỗi bản vị dân tộc của mình, trước khi tiến vào vũ trụ không gian. Dân Tộc Việt, lý ra với ưu thế văn hiến sâu dày, văn hóa tổng hợp: với ưu thế địa lý chính trị, non sông gấm vóc, địa linh nhân kiệt, vị trí giao thoa quốc tế, địa bàn chiến lược: Thời chiến là “Bao lơn của Thái Bình Dương”. Thời bình là: “Đầu cầu kinh tế Đông Nam Á”. Nếu đất nước được lãnh đạo bởi những người lấy yêu thương làm nền tảng, có quảng đại kiến thức, có liên hệ quốc tế rộng rãi, biết dẫn đưa Dân Tộc đáp ứng đúng chiều hướng mới của Lịch Sử Thế Giới, biết đặt quyền lợi dân tộc lên trên quyền lợi của đảng phái và cá nhân, thì chẳng mấy chốc mà dân ta được hạnh phúc, no ấm, nước ta được phú cường, vươn mình lên sáng chói với năm châu.

II – CƠ DUYÊN LỊCH SỬ – THỰC TRẠNG ĐẤT NƯỚC – ĐẢNG CSVN BẤT XỨNG VÀ BÀI TOÁN NAN GIẢI VIỆT NAM.

Cơ duyên lịch sử: Ngay sau khi Hiệp Định Paris ký kết chưa ráo mực CSVN đã trắng trợn vi phạm Hiệp Nghị đem đại quân xâm lăng miền Nam. Dẫu sao biến cố 1975 cũng đã tạo ra những cơ duyên lịch sử quan trọng:

         Sự kiện Đất nước Việt Nam Thống Nhất: Đáng lẽ CSVN phải tận dụng biến cố này để hóa giải hận thù, hòa đồng dân tộc mở đường cho đất nước tiến lên thì đảng CSVN lại kiêu căng hãnh tiến, huênh hoang tuyên bố “Chủ nghĩa Cộng Sản bách chiến bách thắng” và “Đảng Mác-Lê là đỉnh cao trí tuệ loài người!”. Tiếp tục thi hành chính sách đấu tranh giai cấp, lùa mấy trăm ngàn quân, cán, chính Việt Nam Cộng Hòa vào các trại tù “chung thân khổ sai”, với mỹ từ “Trại học tập cải tạo”. Đây là chính sách bất nhân “trả thù, trả oán”, đầy đọa và giết lần giết mòn con người! Làm công việc này CSVN không ngoài mục đích trấn áp, hủy diệt ý chí của những người Việt yêu nước một cách tinh vi và độc ác nhất. CSVN tuy thống nhất được đất nước nhưng đã không thống nhất được lòng người và tiếp tục con đường “phá nước” khiến cho nước tàn, dân kiệt!

         Việc hình thành Cộng đồng Việt Nam hải ngoại: Khi Cộng Sản chiếm Miền Nam, thì hơn 2 triệu người Việt bỏ nước ra đi, làm thành phong trào “Thuyền nhân” khiến xúc động lương tri nhân loại! Tuy nhiên trong cái rủi đã có cái may, những người Việt bỏ nước ra đi tỵ nạn Cộng Sản đã hình thành Cộng đồng người Việt hải ngoại, tới nay gồm gần 3 triệu người sống rải rác tại 80 quốc gia trên thế giới (chưa kể 2 triệu đồng bào hiện đang sống tại Kampuchia). Cộng đồng người Việt hải ngoại đã nghiễm nhiên trở thành một thực thể chính trị cũng như kinh tế rất quan trọng trong cho cả 2 giai đoạn cứu nước cũng như xây dựng đất nước. Ngoài ra Cộng Đồng người Việt hải ngoại còn có tiềm lực rất lớn về kinh tế, văn hóa, chính trị, nhất là có một đội ngũ trên 300 ngàn chuyên gia, chuyên viên đủ ngành nghề. Khối lượng chuyên viên vô giá này sẽ giúp cho chúng ta xây dựng lại đất nước sau khi chế độ CSVN đã cáo chung.

Thực trạng đất nước: Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản nêu ra tiêu ngữ “Độc lập, Tự Do, Hạnh Phúc” song trải qua bao thập niên, ngày nay nhìn lại chúng ta thấy gì? Trước hết đảng CSVN thực hành chủ nghĩa ngoại lai Mác-Xít-Lê-Nin-Nít, cam tâm làm thừa sai của một chủ nghĩa quốc tế, làm theo lệnh của Cộng Sản quốc tế thì Độc Lập dân tộc đâu thể nào có được? Về Tự Do và Hạnh phúc: cả nước là một nhà tù khổng lồ, trong bối cảnh xã hội đói nghèo và lạc hậu.

Từ những năm 1945-1946, CSVN đã mắc bệnh vọng ngoại, coi Các-Mác, Lê-Nin, Mao Trạch Đông là những ông tổ quốc tế vô sản chuyên chính. Chính họ tự nguyện đi theo con đường quốc tế và quốc-tế-hóa đảng. Dân Tộc chỉ là chiêu bài, tranh đấu chống ngoại xâm chỉ là cái vỏ che đậy thực chất giai cấp đấu tranh. Hàng ngàn vạn thanh niên ưu tú và yêu nước gia nhập đảng vào những năm đầu thập niên 1940 với niềm tin tuyệt đối rằng vào đảng là gia nhập một đội ngũ đi cứu nước, đánh đuổi giặc ngoại xâm để giành lại độc lập cho nước nhà. Nhưng tất cả đã bị lừa từ bước đầu. Toàn đảng vẫn cứ tin rằng đảng là con đường lý tưởng để cứu nước, dựng lại một xã hội mới, nhưng có biết đâu rằng nhóm thiểu số lãnh đạo đảng đã quốc-tế-hóa đảng. Đảng là họ và họ là đảng! Họ đồng hóa đảng với dân tộc mà kỳ thực từ bản chất và ý thức hệ Cộng Sản Mác-Lê đã là quốc tế với giai cấp đấu tranh thì tự nó đã đi ngược lại bản chất dân tộc mà các đảng viên hằng theo đuổi và kỳ vọng.

Hệ thống kinh tế Xã Hội Chủ Nghĩa đã làm tiêu tan tiềm lực còn sót lại của đất nước sau mấy mươi năm chiến tranh, khiến cho mấy mươi triệu con người từ Bắc chí Nam phải sống trong cảnh khốn cùng, uất ức. Năm 1986, sau khi nhân dân từ Bắc chí Nam hoàn toàn kiệt quệ, nhóm lãnh đạo đảng Cộng Sản Việt Nam lại tung ra chính sách gọi là canh tân “cởi mở kinh tế. Nhưng trong thực tế chính sách đó chỉ tạo cơ hội cho thành phần cán bộ tham ô và gia đình làm giàu bất lương, bất chính trên mồ hôi, nước mắt của người dân vốn nghèo khó từ thời còn chiến tranh nay lại phải thêm phần điêu đứng. Chua chát hơn nữa, hiện trạng đất nước cho đến bây giờ còn tồi tệ hơn cả xã hội Miền Nam trước kia mà đảng đã lên án và tốn hao biết bao nhiêu xương máu để lật đổ với ý thức hệ ngoại lai và vũ khí của Liên Xô, Trung Cộng.

Tội ác của tập đoàn lãnh đạo đảng CSVN không ngừng lại ở đó. Vào ngày 30 tháng 12 năm 1999, họ đã trắng trợn phản bội lại tổ quốc bằng hành động lén lút ký kết một Hiệp Định chuyển giao Thác Bản Giốc, Ải Nam Quan và gần 1000 km2 lãnh thổ vùng biên giới cực Bắc nước ta cho Trung Cộng. Ngày 20 tháng 12 năm 2000, lại thêm một lần nữa, tập đoàn lãnh đạo đảng CSVN tiếp tục phạm tội ác đối với dân tộc khi ký một Hiệp Định khác để chuyển giao hơn 11,000 km2 lãnh hải cho Trung Cộng, rập khuôn với hành động bán nước của Phạm Văn Đồng vào năm 1958 khi gửi quốc thư thừa nhận bản tuyên bố của Chu Ân Lai về chủ quyền hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa thuộc Trung Cộng. Hai hành động mãi quốc cầu vinh này đã chứng minh rằng tập đoàn lãnh đạo đảng CSVN rõ rệt là những kẻ phản quốc, phản dân tộc. Thực tế này cho thấy rằng ngày nào đảng CSVN còn cầm quyền thì ngày đó vận mệnh đất nước và tương lai dân tộc vẫn còn đầy bất trắc, nguy cơ. Họ vẫn có thể tiếp tục bán đứng dân tộc và đất nước cho ngoại bang để họ được tồn tại.

Tội của nhóm lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam và chủ nghĩa Cộng Sản đã cao chất ngất, không có đủ lời để kết án, không đủ chữ để diễn tả. Tội ấy do từ đâu? Do từ một nhóm người lãnh đạo Đảng mắc bệnh ngoan cố và cuồng tín, túi tham không đáy, biến Đảng thành một công cụ quốc tế, biến Đảng thành một cơ chế ngoại lai để thống trị nhân dân, tha hóa cả dân tộc, đàn áp và đày đọa con người. Cũng vẫn do một nhóm người ấy, tự tiền chế, tự tô son điểm phấn, tự phong công hầu cho nhau, tự tung tự tác, tự lập thành một triều đình mới gọi là Bộ Chính trị Đảng Cộng Sản Việt Nam mà kỳ thực lại phong kiến hơn bất cứ loại hình phong kiến nào, hủ hóa hơn bất cứ sự hủ hóa nào, lạc hậu, hơn bất cứ một bộ tộc lạc hậu bán khai nào. Biến đảng viên các cấp của Đảng từ Trung Ương đến địa phương thành một bày cừu của nhóm lãnh đạo Đảng. Nạn nhân của Bộ chính trị là toàn Đảng và toàn dân. 

Nhóm thiểu số tự đặt ra phương châm, coi là khuôn vàng thước ngọc “Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”. Mà Đảng lãnh đạo là ai? Vẫn là họ, vẫn là nhóm thiểu số Bộ Chính Trị. Nhà nước quản lý là ai? Vẫn là họ là nhóm thiểu số Bộ Chính Trị. Chủ tịch nước và thủ tướng vẫn là họ. Nhân dân làm chủ cái gì? Không được làm chủ cái gì cả, kể cả thân mệnh mình, con cháu và gia đình mình.

Đảng Cộng Sản Việt Nam bất xứng: Qua 30 năm cai trị Miền Bắc (1945-1975) và tiếp theo 28 năm cầm quyền trên toàn lãnh thổ Việt Nam (1975-2003) đã chứng tỏ đảng CSVN hoàn toàn không có khả năng lãnh đạo, đưa đất nước đến Tự Do, Ấm No, Hạnh Phúc thực sự! Không những thế, đảng CSVN còn kềm hãm đất nước trong đói nghèo, lạc hậu. Ngày nào còn chế độ CSVN thì đất nước Việt Nam không có tương lai, càng ngày càng tụt hậu so với thế giới, nhất là các nước lân bang tại Đông Nam Á.

Việc CSVN bí mật bán đất, dâng biển cho Trung Cộng thêm một lần nữa đảng CSVN hiện nguyên hình là một đảng bán nước, hại dân.

Bài toán nan giải Việt Nam: Sự tồn tại của đảng CSVN đang là một đại thảm họa cho Dân Tộc Việt Nam. Nhân dân trong nước cũng như đồng bào hải ngoại ai ai cũng đều oán hận, chán ghét và đều có một mẫu số chung muốn giải thể chế độ Cộng Sản. Nhưng giải thể bằng cách nào?

Trước bài toán nan giải hiện tại, Cộng Sản thì bế tắc không thể lãnh đạo đất nước và cũng không biết cách nào để thoát hiểm. Phong trào dân-chủ-hóa trong nước thì bất lực và đang bị trù dập. Người Việt hải ngoại tuy hăng say chống Cộng, song vẫn là chống đối tiêu cực và thiếu hành động tích cực cụ thể. Các chủ trương đấu tranh đòi Nhân Quyền, Tự Do Tôn Giáo, tuy vẫn rất cần, nhưng không đủ. Các chủ trương Hòa Hợp Hòa Giải, bỏ Điều 4 Hiến pháp của Cộng Sản thì thật khó khả thi. Đó là chưa kể trường hợp khi đảng CSVN bị quốc tế nhất là Hoa Kỳ tấn công quá mạnh về Nhân Quyền, đẩy CSVN vào chân tường. Khi đó CSVN với bản chất gian manh trí trá, lật lọng có thể tuyên bố bỏ Điều 4 Hiến Pháp để bày trò bầu cử trá hình. Nếu bao lâu Việt Nam không có tự do báo chí, tự do tôn giáo và tự do lập đảng và nghiệp đoàn thật sự thì cho dù có bỏ Điều 4 Hiến Pháp để tiến tới bầu cử do Đảng CSVN tổ chức thì cuộc bầu cử này dù có quốc tế giám sát cũng chỉ là cuộc bầu cử trá hình! Sự nguy hiểm của giải pháp này là CSVN sẽ tương kế tựu kế, đánh tráo lịch sử dùng cuộc bầu cử trá hình để “hợp thức hóa” cho đảng CSVN tiếp tục cầm quyền! Vậy đâu là lối thoát cho Dân Tộc Việt Nam?

Với nhận thức nêu trên, lối thoát cho dân tộc Việt trước nhu cầu cứu nguy Tổ Quốc vô cùng cấp bách, là đồng kết hợp các tổ chức đấu tranh người Việt tại nội địa và hải ngoại, cùng hình thành Đảng Dân Tộc Việt Nam.

III – SỰ RA ĐỜI CỦA ĐẢNG DÂN TỘC VIỆT NAM LÀ MỘT ĐÁP ÁN LỊCH SỬ.

1.    Trước một bối cảnh lịch sử Việt Nam hết sức phức tạp và éo le của những thập niên vừa qua, muốn giải thể chế độ CSVN không thể là những giải pháp vá víu nửa vời mà đòi hỏi một giải pháp toàn diện kết tinh được Sức Mạnh Tổng Hợp Toàn Dân Tộc. Chỉ có Tổng Lực Cách Mạng Dân Tộc mới đáp ứng được khát vọng của toàn dân.

2.    Từ thế kỷ 14, chiến lược gia đại tài Nguyễn Trãi đã đúc kết tinh thần, triết lý, nhân ái, nhân nghĩa Việt Nam, áp dụng vào việc chỉ đạo chiến tranh trong 2 câu: “Đem đại nghĩa thắng hung tàn. Lấy chí nhân mà thay cường bạo”. Cuộc cách mạng do Đảng Dân Tộc Việt Nam chủ trương, vận động đồng bào cùng thực hiện là kế thừa và phát huy Truyền Thống Chí Nhân Đại Nghĩa đó.

3.     Đảng CSVN hiện nay là trở ngại chính, là vật cản đường tiến hóa, chận bước tiến tương lai của đất nước. Mà cầm đầu đảng này là ai? Chỉ là 19 nhân vật chóp bu trong Chính Trị Bộ Cộng Sản. Do đó Đảng Cộng Sản Việt Nam chỉ do thiểu số cầm quyền ngoan cố, cực đoan, thối nát và đầy tham vọng trong Chính Trị Bộ Đảng Cộng Sản cần phải đối phó quyết liệt. Còn ngoài ra toàn bộ đồng bào trong đó gồm cả hơn 2 triệu đảng viên Cộng Sản đa số đều là nạn nhân. Đảng Dân Tộc Việt Nam ra đời nhằm giải cứu hơn 2 triệu đảng viên Cộng Sản và gia đình họ, giúp họ có cơ hội bỏ thẻ đảng, xé thẻ đảng cộng sản trở về với chính nghĩa, đạo nghĩa dân tộc.Việc mở lối thoát, mở con đường sống, giải cứu hơn 2 triệu đảng viên Cộng Sản và gia đình họ từ bỏ chế độ Cộng Sản, chính là tiền đề giải cứu toàn bộ Dân Tộc Việt Nam.

4.     Xuất phát từ TẤM LÒNG VIỆT, TRÁI TIM VIỆT, THẦN TRÍ VIỆT, CÁI NHÌN VIỆT, chúng ta sẽ khám phá ra GIẢI PHÁP VIỆT VÀ PHƯƠNG PHÁP HÀNH ĐỘNG VIỆT để giải bài toán nan giải Việt Nam. Đảng Dân Tộc Việt Nam ra đời chính là GIẢI PHÁP VIỆT mà toàn dân mong đợi. Giải pháp toàn dân, toàn Việt này không những thuận lòng trời, hợp ý dân, hợp với chân lý lịch sử và hợp với xu thế Tự Do, Dân Chủ, Đa Nguyên, Đa Đảng của Thời Đại, nên sự ra đời của Đảng Dân Tộc Việt Nam chính là đáp án của lịch sử.

IV – CHỦ NGHĨA DÂN TỘC NHÂN CHỦ

 Chủ nghĩa của Đảng Dân Tộc Việt Nam là Dân Tộc Nhân Chủ, Chủ Nghĩa nầy bao gồm các nguyên lý cơ bản sau:

  • Đề cao và phát huy triết lý Nhân Chủ trên nền tảng Văn hóa, Văn hiến Dân tộc thời đại.
  • Kế thừa và phát huy truyền thống Đạo sống cao đẹp của dân tộc Việt Nam.
  • Xác định NHÂN CHỦ ĐẠO là căn nguyên tư tưởng của DÂN TỘC ĐẠO. Ngược lại, DÂN TỘC ĐẠO là đất đứng, là môi trường, là tương quan SINH MỆNH của NHÂN CHỦ ĐẠO Việt Nam.
  • Chủ Nghĩa Dân Tộc Nhân Chủ được thiết dựng trên 3 phạm trù triết học lớn: CON NGƯỜI – XÃ HỘI – DÂN TỘC và quan niệm rõ rệt rằng: Không thể cách mạng DÂN TỘC nếu không cách mạng CON NGƯỜI và cách mạng XÃ HỘI, ngược lại cũng không thể cách mạng CON NGƯỜI nếu không cách mạng XÃ HỘI và cách mạng DÂN TỘC.
  • Đảng Dân Tộc Việt Nam xây dựng CON NGƯỜI song hành với việc xây dựng XÃ HỘI và xây dựng DÂN TỘC.
  • Đảng Dân Tộc Việt Nam chủ trương khai mở DUỆ TRÍ CON NGƯỜI là bí quyết mầu nhiệm giúp cho CON NGƯỜI NHÂN CHỦ TỰ THẮNG. Con người không tự thắng thì không thể làm chủ được chính mình và tất nhiên không thể thực hiện Chủ Nghĩa Dân Tộc Nhân Chủ thành công được. Ngược lại, CON NGƯỜI TỰ THẮNG là con người làm chủ chính mình, làm chủ xã hội, làm chủ vận mệnh đất nước, hòa đồng với thiên nhiên cùng vũ trụ.
  • Hệ Tư Tưởng: Dân Tộc Nhân Chủ được trình bày đầy đủ trong bộ “Chủ Nghĩa Dân Tộc Nhân Chủ”.

V – MỤC TIÊU, LẬP TRƯỜNG, CHỦ TRƯƠNG, ĐƯỜNG LỐI CỦA ĐẢNG DÂN TỘC VIỆT NAM

A-    Mục Tiêu: Đảng Dân Tộc Việt Nam ra đời nhằm thực hiện 2 mục tiêu chính như sau:

       Một: (Cứu Quốc) Thực hiện cuộc cách mạng Dân Tộc, Đấu tranh giải thể chế độ CSVN và giải trừ Chủ Nghĩa Cộng Sản.

       Hai: (Kiến Quôc) Xây dựng một nước Việt Nam mới trên nền tảng: Dân Tộc, Nhân Chủ, Dân Chủ Pháp Trị, Giầu Mạnh và Vinh Quang.

B-    Lập Trường:

Đảng Dân Tộc Việt Nam đấu tranh trên Lập Trường Dân Tộc Tự Quyết, Đoàn Kết Quốc Dân, Hòa Đồng Dân Tộc hóa giải những mâu thuẫn, nghịch cảnh, hàn gắn những vết thương do hậu quả cuộc chiến tranh ủy nhiệm còn để lại, trong tình tự Dân Tộc.

C-    Chủ trương:

Đảng Dân Tộc Việt Nam là một tập hợp rộng lớn những người Việt Nam không chấp nhận chế độ Cộng Sản, không phân biệt quốc nội hay hải ngoại, không phân biệt quá khứ chính trị, quyết tâm thực hiện cuộc cách mạng dân tộc giải trừ chế độ Cộng Sản đem lại Tình Thương, Tự Do Dân Chủ thực sự, xây dựng đất nước giầu mạnh, ấm no, phúc lợi và vinh quang cho toàn thể Dân Tộc Việt Nam.

a.      Đảng Dân Tộc Việt Nam là một tập hợp rộng lớn những người Việt Nam không chấp nhận chế độ Cộng Sản, không phân biệt quốc nội hay hải ngoại, không phân biệt quá khứ chính trị, quyết tâm thực hiện cuộc cách mạng dân tộc giải trừ chế độ Cộng Sản đem lại Tình Thương, Tự Do Dân Chủ thực sự, xây dựng đất nước giầu mạnh, ấm no, phúc lợi và vinh quang cho toàn thể Dân Tộc Việt Nam.

b.      Đảng Dân Tộc Việt Nam chủ trương KHÔNG TRẢ THÙ TRẢ OÁN VÀ CŨNG KHÔNG NHẰM THIẾT LẬP LẠI NỀN ĐỆ NHẤT HAY ĐỆ NHỊ CỘNG HÒA.

c.      Đảng Dân Tộc Việt Nam không chủ trương một Cuộc Cách Mạng Bạo Lực hay cuộc Cách Mạng Nhung, và cũng không phải là Cuộc Cách Mạng Của Những Đợt Sóng. Đảng Dân Tộc Việt Nam quyết tâm thực hiện MỘT CUỘC CÁCH MẠNG DÂN TỘC NHÂN CHỦ TAM TOÀN: TOÀN DÂN, TOÀN DIỆN VÀ TOÀN CẦU (Vận động Cộng Đồng Hải Ngoại và Quốc Tế). Đây là MỘT CUỘC CÁCH MẠNG ĐẦY LÒNG NHÂN ÁI PHÙ HỢP VỚI TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC VIỆT, THÍCH HỢP VỚI XU THẾ LỊCH SỬ THỜI ĐẠI, MỘT CUỘC CÁCH MẠNG ÍT ĐỔ MÁU NHẤT, VÀ ÍT ĐỔ VỠ NHẤT.

d.      Đảng Dân Tộc Việt Nam chủ trương thực hiện song hành 3 cuộc cách mạng: cách mạng Con Người, cách mạng Xã Hội, và cách mạng Dân Tộc. Chúng ta quan niệm rõ rệt rằng: Không thể cách mạng Dân Tộc, nếu không cách mạng Con Người và cách mạng Xã Hội. Ngược lại cũng không thể cách mạng Con Người nếu không cách mạng Xã Hội và cách mạng Dân Tộc.

e.      Đảng Dân Tộc Việt Nam chủ trương thăng tiến đời sống đảng viên, thăng tiến đời sống con người và thăng tiến xã hội trên khắp mặt: Chính Trị, Kinh Tế, Văn Hóa, Văn Nghệ, Giáo Dục, Thương Mại, Khoa Học Kỹ Thuật… 

D- Đường Lối:

1.    Đảng Dân Tộc Việt Nam quan niệm rằng Tư Tưởng Dân Tộc và phẩm giá con người phải là căn bản chủ đạo dẫn lối cho nhân dân Việt Nam trong tiến trình cứu quốc, dựng lại con người và xây dựng lại đất nước. Tuy nhiên ngoại trừ chủ nghĩa Cộng Sản, Đảng Dân Tộc Việt Nam không bài bác các chủ thuyết và chủ nghĩa chân chính khác trên thế giới; sẵn sàng tiếp thu các tinh hoa của nhân loại nhưng phải phù hợp với văn hóa và hoàn cảnh của xã hội Việt Nam.

2.    Phương sách hành động của Đảng Dân Tộc Việt Nam là quyết liệt nhưng không cực đoan, dứt khoát nhưng hòa đồng dân tộc và thuận thảo trong tình tự dân tộc, có lý có tình. Tôn Chỉ Đảng Dân Tộc Việt Nam là thực hiện chủ nghĩa Dân Tộc Nhân Chủ, dựng lại nước Việt Nam mới, thực sự có dân chủ, tự do, ấm no và tiến bộ. Kỳ vọng của từng Đảng Viên Đảng Dân Tộc Việt Nam là góp phần kiến tạo một xã hội mới ai ai cũng có thể hãnh hiện với quá khứ, hăng say với hiện tại và vững tin ở tương lai huy hoàng của chính mình, gia đình, dòng họ và đất nước… Muốn đạt được tôn chỉ này là phải quyết tâm đạt cho bằng được điều kiện tiên quyết là đại đoàn kết quốc dân, cùng chung một quyết tâm cứu nước.

3.    Đảng Dân Tộc Việt Nam luôn luôn tương kính và sẵn sàng hợp tác với các Đảng Phái, Hội Đoàn, Đoàn Thể đấu tranh tại Hải Ngoại cũng như tại Quốc Nội, có cùng Tôn Chỉ, Mục Tiêu chống Cộng cho dù các Đảng Phái, Hội Đoàn, Đoàn Thể bạn có đường lối và phương thức đấu tranh khác với Đảng Dân Tộc Việt Nam.

4.    Đảng Dân Tộc Việt Nam chân thành ghi nhận sự đấu tranh kiên cường trong gần 30 năm qua của các tổ chức và cá nhân ở cả Bắc và Nam vĩ tuyến 17, trong và ngoài nước thiết tha với độc lập của Dân Tộc, hạnh phúc, dân chủ và tự do của Đồng Bào. Đảng Dân Tộc Việt Nam đồng thời ghi công các đồng chí đã anh dũng đứng lên vạch trần bộ mặt phản dân, hại nước, phi dân chủ của tập đoàn lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam trong những năm gần đây. Tất cả hành động yêu nước này là những đóng góp vô cùng to lớn trong sự nghiệp giải trừ chế độ độc tài Cộng Sản Việt Nam. Đó là cuộc “góp gió” để tạo “giông bão” Lịch Sử, đánh sập tập đoàn lãnh đạo Đảng Cộng Sản Việt Nam.

5.    Nhằm thực hiện cuộc cách mạng Dân Tộc, Toàn Dân, Toàn Diện và Toàn Cầu, Đảng Dân Tộc Việt Nam ý thức rằng, ngoại trừ thành phần tay sai của Cộng Sản Quốc tế cũng như Tư Bản, toàn bộ đồng bào ta đều là nạn nhân. Thành phần đáng lên án chỉ là thiểu số cầm quyền ngoan cố, cực đoan và tham vọng. Chúng tôi tin tưởng là khi cuộc cách mạng cứu nước thực sự chuyển mình, thì đại đa số Đảng viên Cộng Sản, Bộ Đội, viên chức hành chánh, kể cả lực lượng công an, sẽ cùng đứng về phía nhân dân cùng tham gia giải thể chế độ hại dân, bán nước.

6.    Về mặt sách lược, Đảng Dân Tộc Việt Nam ý thức rằng chiến tranh khủng bố và bạo động sẽ không giải quyết được những bế tắc của đất nước. Những phương thức đó có thể gây nên những đổ vỡ mới. Lịch sử cận đại thế giới chứng minh rằng nhiều quốc gia đã giành lại được độc lập và dân chủ, tự do bằng các phương thức đấu tranh không chiến tranh, không bạo lực.

7.    Căn cứ vào chính tình của Việt Nam ngày nay, Đảng Dân Tộc chủ trương liên kết các thành phần dân tộc, kết hợp các tổ chức đấu tranh có cùng lập trường, quan điểm và mục tiêu giải thể chế độ Cộng Sản ở trong nước cũng như ở hải ngoại để hình thành một tổng lực cách mạng có khả năng giải thể và thay thế chế độ CSVN.

8.    Đảng Dân Tộc Việt Nam nhận định rằng các tổ chức hoạt động đấu tranh ở quốc nội là thành phần chủ lực, đồng bào hải ngoại là viện lực, các quốc gia đồng minh là tiếp lực hay trợ lực trong công cuộc đấu tranh dân chủ hóa Việt Nam và giải thể chế độ Cộng Sản. Đường lối đấu tranh của Đảng Dân Tộc Việt Nam là giành lại chính quyền từ tay Đảng CSVN, thiết lập chính quyền lâm thời, và tổ chức tổng tuyển cử để toàn dân tự do lựa chọn một thành phần lãnh đạo xứng đáng nhất cho đất nước. Trong giai đoạn tái thiết, Đảng Dân Tộc Việt Nam sẽ tiếp tục phục vụ quốc gia và đồng bào qua hình thức tham chính, và song hành thực hiện các chương trình trợ giúp xã hội, văn hóa, giáo dục v.v… Toàn bộ Chiến lược, sách lược và chương trình hành động tổng thể sẽ được trình bày trong Cương Lĩnh của Đảng Dân Tộc Việt Nam qua ba giai đoạn Cứu Quốc, Ổn Định, và Xây Dựng đất nước.

VI – TINH HOA DỰNG NƯỚC:

  1. Đảng Dân Tộc Việt Nam quan niệm: Quốc Tổ Hùng Vương là gốc của nước, là tụ điểm tinh thần của Dân Tộc Việt. Đức Bình Định Vương Lê Lợi cũng đã viết: “Vật bản hồ Thiên, Nhân bản hồ Tổ = Vật gốc từ Trời, Người gốc từ Tổ (trích lời tựa Lam Sơn Thực Lục). Do đó, toàn thể con dân đất Việt ai ai cũng phải uống nước nhớ nguồn”, ghi ơn Quốc Tổ Hùng Vương. Hơn thế nữa mỗi người con dân đất Việt phải làm hết sức mình góp phần Vinh Danh Quốc Tổ và làm vinh quang Dân Tộc Việt.
  2. Đảng Dân Tộc Việt Nam lấy văn hóa, văn hiến Việt, Đạo Sống Việt trong thường hằng tiếp thu, tổng hợp văn minh thế giới thời đại làm chủ đạo cứu nước và dựng nước.
  3. Với dân số trên 80 triệu người, một nửa dân số là giới trẻ, Đảng Dân Tộc Việt Nam quyết tâm phục hưng đất nước bằng ý chí và sức mạnh của toàn dân, và nhất định không cần ai bố thí, không phải nhục nhã ngửa tay đi ăn xin lòng nhân đạo của thế giới. Đó cũng là mục tiêu chính của Đảng Dân Tộc Việt Nam quyết thực hiện cho bằng được để cùng toàn dân rửa cho sạch những vết nhơ đầy nhục nhằn mà nhóm lãnh đạo đảng Cộng Sản Việt Nam vì dốt, vì kiêu, vì ham làm giầu đã vấy bẩn lên quốc thể! Đảng Dân Tộc Việt Nam quyết giành lại danh dự của Tổ Quốc và niềm tự hào dân tộc mà nhóm lãnh đạo đảng và nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã làm tiêu tan. Đó là nguyên nhân hình thành Đảng Dân Tộc Việt Nam. Và cũng là cốt tủy, tinh hoa công cuộc dựng nước.
  4. Đảng Dân Tộc Việt Nam chủ trương đặt quyền lợi của Dân Tộc lên trên hết và cực lực chống lại mọi quan niệm sai lầm đặt quyền lợi của Đảng lên trên quyền lợi của Dân Tộc như Đảng Cộng Sản Việt Nam và các đảng độc tài khác. Không những thế Đảng Dân Tộc Việt Nam còn chủ trương lấy sinh mệnh của Dân Tộc làm sinh mệnh của Đảng. Đảng do dân, vì dân và lấy việc phục vụ dân, phục vụ con người làm cứu cánh. Với chủ trương trên, Đảng Dân Tộc Việt Nam không chủ trương cướp chính quyền, giành giựt chế độ là tối quan trọng, mà chỉ vì một mục đích tối thượng là phục hưng dân tộc để xây dựng đất nước và giải quyết tận gốc những khó khăn, bế tắc và sự khốn cùng của dân tộc. Không phải chỉ đi ăn xin thế giới để “xóa đói giảm nghèo mà phải dứt hẳn đói nghèo từ tận gốc bằng các chính sách dân sinh, kinh tế, tự mình phải cứu mình, tự mình giải phóng mình. Dân Tộc Việt Nam vốn trì chí, nhẫn nại, có đủ tài nguyên và nhân lực để vươn lên, xóa tận gốc những nguyên nhân tạo nên nghèo đói và lạc hậu.
  5. Đảng Dân Tộc Việt Nam đặt dân trí là ưu tiên hàng đầu. Phải nâng cao dân trí thì mới có thể xóa bỏ tận gốc nghịch cảnh đói nghèo và lạc hậu trên một đất nước văn hiến lại dư thừa lúa gạo và tài nguyên. Con cháu ta đến tuổi đi học phải được cắp sách đến trường. Đảng Dân Tộc Việt Nam chủ trương vận động chính quyền mới thực hiện chính sách cưỡng bách giáo dục và giáo dục phải là trọng trách của chính quyền. Phải đưa dân trí càng ngày càng lên cao trong chính sách khai phóng, đó là nghĩa vụ của bất cứ một chế độ nào vì nước, vì dân, vì con người, vì gia đình, xã hội và dân tộc. Đảng Dân Tộc Việt Nam quyết tâm phải thực hiện cho bằng được mục đích và nghĩa vụ cao trọng này. Do vậy, giáo dục quốc dân và nâng cao dân trí phải là cứu cánh của cuộc cách mạng và giải phóng dân tộc mà Đảng Dân Tộc Việt Nam quyết tâm theo đuổi để đạt cho bằng được. Không phải chính trị là ưu tiên, dân trí mới là trọng yếu. Dân trí mới là khẩn cấp để mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc. Dân trí cao thì tự nhiên chính trị sẽ trong sáng và lương hảo. Giáo dục là khởi điểm và chung điểm của chính trị. Dân trí cao thì chắc chắn dân sinh, dân quyền, nhân quyền và các quyền tự do căn bản khác sẽ được phát triển và bảo trọng.

VII – NHỮNG ĐIỀU CAM KẾT TRƯỚC QUỐC DÂN CỦA ĐẢNG DÂN TỘC VIỆT NAM.

Trước hồn thiêng sông núi, trước anh linh Quốc Tổ Hùng Vương, Đảng Dân Tộc Việt Nam long trọng cam kết trước quốc dân đồng bào 5 điều sau đây:

1.    Điều cam kết thứ Nhất: Đáp ứng nguyện vọng tha thiết của 80 triệu đồng bào trong nước và 3 triệu đồng bào hải ngoại, đáp ứng nhu cầu cấp thiết của thời đại, Đảng Dân Tộc Việt Nam quyết tâm hoàn thành cuộc cách mạng Dân Tộc: Toàn Dân, Toàn Diện, và Toàn Cầu. Giải thể chế độ CSVN, xây dựng một chế độ Dân Chủ, Tự Do, Ấm No, Phúc Lợi. Mở ra một vận hội mới, một kỷ nguyên mới huy hoàng, rực rỡ cho đất nước và Dân Tộc Việt Nam.

2.    Điều cam kết thứ Hai: Khi được nhân dân tín nhiệm trong chính tuyển cầm quyền, Đảng Dân Tộc Việt Nam sẽ có sách lược giải quyết tận gốc và vĩnh viễn tình trạng đói nghèo trong xã hội Việt Nam. Từ nay, người dân nào cũng được cơm no, áo ấm, đồng bào nghèo được chăm sóc y tế một cách chu đáo, mọi người đều có quyền tư hữu và môi trường thích hợp để cải tiến thăng hoa đời sống của mình và gia đình mình, góp phần xây dựng đất nước giầu mạnh, sánh vai cùng các nước tiên tiến trên thế giới.

3.    Điều cam kết thứ Ba: Nhằm nâng cao dân trí, Đảng Dân Tộc Việt Nam đặt trọng tâm vào chính sách giáo dục với quan niệm “giáo dục là khởi điểm và chung điểm của kiến thiết”. Quan niệm này được cụ thể hóa bằng “Chính sách miễn phí và cưỡng bách giáo dục” từ Tiểu học đến hết bậc Trung học song song với “Quốc sách phát huy văn hóa đào tạo nhân tài” phổ cập trên toàn quốc.

4.    Điều cam kết thứ Tư: Nhằm thực hiện cuộc cách mạng trong guồng máy hành chánh, Đảng Dân Tộc Việt Nam sẵn sàng cung ứng một đội ngũ cán bộ ưu tú: có khả năng, có tinh thần yêu nước, trong sạch và tinh thần dấn thân phục vụ Quốc Gia Dân Tộc.

5.    Điều cam kết thứ Năm: Sự ra đời của Đảng Dân Tộc Việt Nam sẽ không cho phép chính trị Bộ Cộng Sản kéo dài tình trạng ù lì, cố bám. Mặt khác Đảng Dân Tộc Việt Nam cũng không thể để nhân dân mỏi mòn trông đợi như suốt 28 năm qua. Thời cơ cách mạng đã chín mùi, với sự yểm trợ cụ thể và rộng lớn của Quốc tế về tài chánh và chính trị, với sự tham gia của nhiều trí thức chuyên viên hải ngoại, với sự kết hợp chặt chẽ của nhiều thành phần cao cấp trong hàng ngũ Cộng Sản đang cầm quyền, với thời cơ quốc tế thuận lợi, chúng tôi cam kết sẽ giải thể được chế độ Cộng Sản tại Việt Nam trước năm 2005.

VIII LỜI KÊU GỌI:

Chúng tôi chân thành kêu gọi sự yểm trợ của toàn thể đồng bào ở cả trong và ngoài nước, cùng hưởng ứng và yểm trợ các chiến dịch đấu tranh dân-chủ-hóa Việt Nam do Đảng Dân Tộc Việt Nam phát động trong những ngày tháng sắp tới, cho đến khi chế độ độc tài hiện nay bị cáo chung. Chúng tôi đồng thời tha thiết kêu gọi sự hậu thuẫn chặt chẽ của các phong trào đấu tranh cho dân chủ, tự do ở hải ngoại, đặc biệt là trong lãnh vực quốc tế vận, và mặt trận truyền thông, báo chí trong cộng đồng người Việt hải ngoại cũng như quốc tế. Sự tiếp tay của quý vị sẽ đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong việc cô lập và giải thể chế độ Cộng Sản Việt Nam.

Đảng Dân Tộc Việt Nam kêu gọi sự cảm thông và yểm trợ tích cực của quý vị cựu sĩ quan, công chức, quân nhân Việt Nam Cộng Hòa. Chúng tôi khẩn thiết đề nghị quý vị hãy cùng chúng tôi kết hợp sức mạnh nhằm nhanh chóng chấm dứt sự thống trị của đảng Cộng Sản Việt Nam, xây dựng một xã hội mới mà tất cả chúng ta đều mong muốn.

Đảng Dân Tộc Việt Nam đặc biệt kêu gọi sự mạnh dạn hưởng ứng và tham gia mạnh mẽ của các anh chị em viên chức trong chính quyền, quân đội, công an, bộ đội, hiện vẫn đang phục vụ trong guồng máy đảng và nhà nước Cộng Sản Việt Nam. Chúng tôi đề nghị các bạn sẽ tận dụng quyền hạn và điều kiện thuận lợi đang có để công khai hay bí mật, cùng với chúng tôi thực hiện cuộc cách mạng cứu nguy tổ quốc trong những ngày tháng sắp tới. Sự hưởng ứng của các bạn sẽ là hành động anh dũng để cứu nước, cứu dân và cứu chính mình cùng gia đình.

Đảng Dân Tộc Việt Nam kêu gọi chính quyền và các cơ quan truyền thông, báo chí trên thế giới, hãy tích cực hậu thuẫn cho nhân dân Việt Nam trong công cuộc đấu tranh chấm dứt chuyên chính vô sản, giành lại quyền Dân Tộc Tự Quyết cho Việt Nam, để nhân dân Việt Nam sớm có cơ hội tham gia, đóng góp vào tiến trình phát triển chung của cộng đồng thế giới.

Nước Việt Nam phải có Dân Chủ! Người Việt Nam phải có Tự Do!

Làm tại Việt Nam ngày 15 tháng 8 năm 2003

ĐẢNG DÂN TỘC VIỆT NAM

Read Full Post »

LỜI MỞ ĐẦU

Ý thức rằng: dân tộc có hòa đồng, toàn dân mới nhất trí. Nhân dân có ấm no, xã hội mới an lạc. Đất nước muôn người như một, tổ quốc mới hùng cường. Đồng bào Kinh, Thượng, trong và ngoài, không phân biệt quá khứ chính trị, cần thắt giải đồng tâm, xóa bỏ mọi dị biệt, quên đi những oan trái xưa, tay trong tay, vai kề vai, không còn chất chứa phẫn hận, chỉ có dân tộc sống còn trong vinh quang, tiến hóa và phúc lợi của đồng bào mới là mục tiêu cao cả cần nhắm tới và phải đạt cho kỳ được. Có như thế đất nước mới có thể phục hồi, dân tộc mới thoát khỏi bất công, áp bức và đọa đày.

Quan niệm rằng: hôm nay và ngày mai phải là những tháng ngày mới, dân tộc Việt Nam trước sau chỉ là một khối thống nhất, xã hội Việt Nam phải là một xã hội thượng tôn bảo trọng con người, một xã hội nhân bản, công bằng trong dân chủ, tự do, bao dung và tiến bộ, không thể đi ngược lại trào lưu phát triển và tiến hóa của thế giới. Việt Nam là chiếc nôi văn minh và nhân chủng tiền tiến của loài người cách đây gần 5000 năm. Khảo cổ học và nhân chủng học quốc tế đã chứng minh rõ rệt như thế. Cho nên, Việt Nam cấp thiết phải được giải cứu khỏi nạn cộng sản, văn minh Việt phải được phục hồi để canh tân và tiến bộ như ông cha ta đã văn minh và tiến bộ từ những ngàn năm xưa.

Ai cũng thấy rõ rệt: Đất nước Việt Nam là giải giang sơn gấm vóc, thật là “minh châu của trời Đông. Núi cao, rừng thẳm, sông dài, biển cả mênh mông, không thiếu một tài nguyên hiếm quý nào mà ta không có, không thiếu của ngon vật lạ nào mà ta không được thừa hưởng. Đất nước Việt Nam thì giàu đẹp từ những ngàn xưa. Bao nhiêu danh lam thắng cảnh. Quả là một đất nước lang hoàn phú địa cho nên tổ tiên ta mới đặt tên nước là Văn Lang. Đất đẹp người hiền, thông minh và quả cảm, thực là miền địa linh nhân kiệt. Ấy thế mà nay, Việt Nam là nước nghèo nhất thế giới, lạc hậu nhất Á Châu, lầm than nhất Đông Nam Á. Lỗi ấy, thảm họa dân tộc ấy do từ đâu? Không do đâu khác hơn là do một nhóm thiểu sống đang thống trị đất nước dưới danh hiệu Bộ Chính Trị của Đảng CSVN.

Ai cũng biết rõ ràng: kể từ sau biến cố 30 tháng 4 năm 1975, lãnh thổ Việt Nam đã được thống nhất, nhưng trên thực tế từ đấy đến nay toàn dân tộc chưa từng được thống nhất. Đảng CSVN đã không thống nhất được lòng người. Do sự bất lực lại độc đoán chuyên quyền, nhóm thiểu số lãnh đạo, tức Bộ Chính Trị đã không có khả năng lãnh đạo đất nước, càng ngày dân tâm càng phân hóa, dân tộc càng cách ly, xã hội càng lúc càng băng hoại và thoái hóa. Đâu đâu cũng chỉ thấy cảnh người bóc lột người, người đọa đày người, tham nhũng lan tràn mà nguyên nhân phát sinh vẫn do nhóm thiểu số lãnh đạo ở Bộ Chính Trị.

Nhận định rằng: Tập đoàn lãnh đạo Bộ Chính Trị đã âm thầm ký kết Hiệp Nghị Nhượng Đất (ngày 30-12-1999) và Hiệp Nghị Dâng Biển (ngày 20-12-2000) cho Trung Cộng. Thêm một lần nữa, hành động này đã lột trần bộ mặt bán nước hại dân phản bội Tổ Quốc, phản bội Tổ Tiên và phản bội Dân Tộc mà tập đoàn Chính Trị Bộ Cộng Sản không thể nào chối cãi được!

Nhận định rằng: Dân tộc Việt Nam đang bên lề diệt vong do đói khổ, lầm than, bệnh tật, ô nhiễm môi sinh. Đâu đâu cũng là độc tố, từ thành thị đến nông thôn, từ rừng cao núi thẳm, ruộng vườn đến sông suối, hải cảng biển khơi. Về mậu dịch và trên thương trường, dưới sự lãnh đạo sai lầm, thoái hóa và bất nhất của Bộ Chính Trị – Đảng CSVN đã mất chữ TÍN đối với quốc tế, đã không còn lòng tin cậy và nể trọng trong cộng đồng thế giới.

Nhận định rằng: Chế độ CSVN đương tại do một nhóm độc quyền chuyên chính, thoán đoạt qua Bộ Chính Trị mà thực chất chỉ là một cơ chế hủ bại, thoái hóa, ung thối và sa đọa trầm trọng, tuyệt đối không có khả năng quản lý và điều hành guồng máy quốc gia, càng ngày càng đưa đất nước đến cảnh khốn cùng và bế tắc toàn bộ.

Ý thức rằng: Trong chiều hướng phát triển chung của thế giới ngày nay, khuynh hướng dân chủ, tự do và kinh tế thị trường trong tinh thần dân tộc nhân chủ là những yếu tố cần và đủ để đưa một quốc gia thoát khỏi tình trạng độc tài nghèo khó.

Quan niệm rằng: Việt nam cần có một hàng ngũ lãnh đạo mới, xuất thân từ hàng ngũ những người yêu nước, yêu dân tộc và tinh thần dân chủ tự do, không phân biệt quá khứ chính trị, có khả năng xây dựng một thế đứng an toàn, thuận lợi và xứng đáng cho Việt Nam trong cộng đồng thế giới đầy tương quan quyền lợi và trách nhiệm hiện nay.

Ý thức rằng: Chúng ta phải nhập cuộc với lòng bao dung, tình đồng bào, tình thương và trí tuệ. Chỉ có ý chí dân tộc và trí tuệ mới của một dân tộc tự tỉnh thức, người người tự phản tỉnh, tự giác ngộ mới có thể giải phóng được dân tộc bằng con đường đại hòa và đại kết. Chỉ có cái tâm của dân tộc và một tinh thần khai phóng tiến bộ mới có thể phục hưng được dân tộc và tái thiết đất nước.

Quan niệm rằng: Đã đến lúc đất nước cần phải khai thông những bế tắc nội tại để cùng toàn dân quyết tâm nhất trí xây dựng lại một xã hội Việt Nam mới, thực sự có dân chủ chân chính, có đầy đủ tự do, cơm no, áo ấm và tiến bộ. Đất nước là đất nước chung, đại cuộc phục hưng dân tộc và canh tân đất nước và cách mạng xã hội phải do toàn dân, toàn quốc và do nhiều đảng, nhiều đoàn thể cùng nhau chung lưng góp sức để lãnh trách nhiệm với vai trò tiền phong trong công cuộc phục hưng dân tộc và tái thiết dân chủ hóa Việt Nam.

Để đáp lại tiếng gọi thiêng liêng của tổ quốc, thể theo ý nguyện của toàn dân và cũng vì dân sinh phúc lợi của đồng bào, vì mưu cầu chung cho sự thịnh vượng và dân chủ của đất nước, Đảng Dân Tộc Việt Nam long trọng công bố Cương Lĩnh Chính Trị của Đảng, bao gồm đường lối, sách lược của Đảng qua ba giai đoạn chiến lược: Cứu Nước, Ổn Định và Xây Dựng Đất Nước.

Read Full Post »